Trang 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi:
- Hội đồng sáng kiến ......;
- Hội đồng sáng kiến ........
Tôi ghi tên dưới đây:
STT
Họ
và
tên
Ngày
tháng
năm
sinh
Nơi công tác Chức
danh
Trình
độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%) đóng góp
vào việc tạo ra sáng
kiến
1
- Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số phương pháp dạy học
tích cực giúp học sinh hứng thú học tập môn Giáo dục công dân lớp 8.
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (trường hợp tác giả không đồng thời là chủ
đầu tư tạo ra sáng kiến). Không có
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khoa học tự nhiên
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
- Mô tả bản chất của sáng kiến
1. Lý do chọn sáng kiến
Sáng kiến được xây dựng trên cơ sở yêu cầu đổi mới giáo dục và xuất phát từ
thực tiễn tổ chức hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 7 phân môn Hóa học
tại nhà trường. Trong bối cảnh ngành giáo dục đang đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương
pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học
Trang 2
sinh, việc nâng cao chất lượng giảng dạy không chỉ dừng ở truyền thụ kiến thức mà cần
hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy cho thấy phân môn Hóa học lớp 7 vẫn còn một
số khó khăn nhất định. Một số nội dung kiến thức mang tính lí thuyết, tương đối trừu
tượng, dễ tạo cảm giác khô khan đối với học sinh nếu giáo viên chưa có sự đổi mới phù
hợp trong cách tổ chức bài học. Bên cạnh đó, ở một số tiết dạy, việc vận dụng các
phương pháp dạy học tích cực còn chưa thật sự linh hoạt; học sinh tiếp thu kiến thức
còn mang tính thụ động, chưa mạnh dạn tìm tòi, khám phá và liên hệ kiến thức với thực
tiễn. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến hứng thú học tập, khả năng tự học cũng như hiệu
quả tiếp nhận kiến thức của học sinh.
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy môn Khoa học tự nhiên lớp 7 phân
môn Hóa học, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong quá trình tổ chức
dạy học, tôi đã nghiên cứu và đề xuất sáng kiến “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy môn Khoa học tự nhiên lớp 7 phân môn Hóa học” nhằm tạo ra sự
chuyển biến tích cực trong cả hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học
sinh.
Bản chất của sáng kiến là tập trung vào việc lựa chọn, vận dụng linh hoạt một số
giải pháp dạy học phù hợp với đặc trưng phân môn Hóa học lớp 7, hướng tới tăng tính
trực quan, phát huy vai trò chủ thể của học sinh, tạo hứng thú học tập và khuyến khích
các em tích cực tham gia vào quá trình chiếm lĩnh kiến thức. Qua đó, sáng kiến góp
phần nâng cao chất lượng giảng dạy, phát huy năng lực tự học, hợp tác, giải quyết vấn
đề và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của sáng kiến
a) Mục đích nghiên cứu của sáng kiến
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất các giải pháp ứng
dụng các phương pháp đổi mới trong môn Khoa học tự nhiên phân môn Hóa học nhằm:
- Giúp giáo viên hiểu và vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực,
hiện đại, rèn luyện cho giáo viên kỹ năng thiết kế các bài học tạo hứng thú cho học sinh,
mang lại hiệu quả giảng dạy cao dựa trên nội dung bài học trong Sách giáo khoa.
Trang 3
- Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng như: kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tìm
kiếm thông tin trên internet, kỹ năng xây dựng kế hoạch, xây dựng bản vẽ thiết kế, phát
triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sự sáng tạo trong quá trình học tập
và tạo ra sản phẩm.
- Học sinh gắn kết được nội dung học tập với yêu cầu thực tiễn. Từ đó khắc sâu
được kiến thức lý thuyết, liên hệ được kiến thức trong thực tiễn đời sống, tạo hứng thú
học tập, kích thích sự sáng tạo, tránh thói quen thụ động.
- Giúp các em có niềm đam mê và yêu thích môn Khoa học tự nhiên, đạt kết quả
học tập tốt trong môn học.
b) Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến
- Các giải pháp dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 7 phân môn Hóa học.
- Quá trình tạo hứng thú cho học sinh, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập
môn Khoa học tự nhiên lớp 7 phân môn Hóa học.
c) Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến
Trường TH&THCS Tuân Tức, học sinh lớp 7/1, 7/2 và 7/3
3. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học môn Khoa học tự
nhiên tại nhà trường đã có những chuyển biến nhất định; giáo viên đã bước đầu quan
tâm đến việc tổ chức cho học sinh học tập tích cực hơn, chú trọng thực hành và khai
thác công nghệ thông tin trong dạy học. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy Khoa học
tự nhiên phân môn Hóa học lớp 7 vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc. Một số giáo
viên tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học chưa đồng đều, việc vận dụng các hình thức
dạy học tích cực còn thiếu linh hoạt, đôi lúc còn mang tính hình thức, chưa thật sự phù
hợp với đặc trưng nội dung bài học. Ở một số tiết dạy, việc truyền thụ kiến thức vẫn
thiên về lý thuyết, chưa tạo được nhiều cơ hội để học sinh tìm tòi, trải nghiệm và vận
dụng kiến thức vào thực tiễn. Bên cạnh đó, một bộ phận học sinh vẫn học theo thói quen
thụ động, chú trọng nghe giảng, ghi chép hoặc làm bài tập để phục vụ kiểm tra, chưa có
nhiều hứng thú với việc khám phá bản chất kiến thức khoa học. Những hạn chế này ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng tiếp thu kiến thức, năng lực thực hành và mức độ yêu
thích môn học của học sinh. Chính vì vậy đầu năm học 2024 - 2025 tôi đã tiến hành
Trang 4
khảo sát 126 em học sinh lớp 7 ở trường THCS Tuân Tức về sự hứng thú, cách thức học
và nội dung phương pháp học môn KHTN:
Bảng 1. Kết quả khảo sát sự yêu thích của HS với môn KHTN
Câu
Nội dung
Kết quả
Số lượng Tỉ lệ %
1 Sự hứng thú học KHTN ở các em thuộc mức nào?
Rất thích 8 6,3
Thích 22 17,5
Bình thường 60 47,6
Không thích 36 28,6
2 Em thích học môn KHTN vì:
Môn KHTN là một trong những môn chính 25 19,8
Bài học sinh động, thầy cô dạy vui vẻ, dễ hiểu 49 38,9
Kiến thức dễ nắm bắt 24 19,0
Kiến thức gắn thực tế nhiều 28 22,3
3 Trong giờ học môn KHTN em thích được học như thế nào
Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến, thảo luận và
làm việc
39 31,0
Nghe giảng và ghi chép một cách thụ động 21 16,7
Được làm các thí nghiệm thực hành để hiểu sâu sắc vấn
đề về khoa học tự nhiên 30 23,8
Làm các bài tập nhiều để ôn thi học kỳ 36 28,6
4 Nội dung dạy học
Không cần thí nghiệm thực hành nhiều 32 25,4
Tăng cường học lí thuyết và giải bài tập tính toán gắn
với các kỳ thi
57 45,2
Giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để đưa
kiến thức vào thực tiễn, tăng cường phần thực hành. 37 29,4
Trang 5
Kết quả khảo sát cho thấy số lượng học sinh yêu thích và thích phân môn Khoa
học tự nhiên rất thấp chỉ chiếm 6% và 17%; các em thích học vì môn học là do giáo
viên dạy, do là môn chính và kiến thức gắn với thực tiễn. Các em cũng rất chú trọng các
nội dung dạy học gắn với các kì thi chiếm 45%. Rõ ràng qua phân tích thì các em vẫn
chủ yếu học theo lối truyền thống nặng về thi cử đối phó, do vậy mà các em ít có yếu
tố đam mê nghiên cứu và thực sự yêu thích là rất ít, kĩ năng thực hành rất hạn chế và là
nguyên nhân năng lực làm việc hạn chế sau khi ra trường, đặc biệt là trong thời đại 4.0
với kỉ nguyên của thế giới phẳng thì khả năng đáp ứng đầu ra sau khi ra trường lại càng
rất khó khăn.
4. Các giải pháp thực hiện
4.1. Nội dung giải pháp
Giải pháp 1: Xây dựng các câu hỏi có nội dung thực tiễn vào trong bài học
Các câu hỏi có thể được thể hiện trong các hoạt động dạy học khác nhau như
nghiên cứu xây dựng kiến thức mới; củng cố, vận dụng kiến thức; ôn tập; hoặc kiểm tra
đánh giá…
Trong đó, có thể có các loại yêu cầu như:
+ Yêu cầu học sinh phải nhận biết kiến thức có liên quan và sử dụng để giải thích
sự vật hiện tượng.
+ Yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức để đưa ra một phương án giải quyết,
cách làm đáp ứng được yêu cầu đề ra…
Ưu điểm của các câu hỏi này là khi học sinh được đặt trước những câu hỏi thực
tiễn, liên quan đến đời sống hàng ngày, các em sẽ tò mò và hứng thú hơn với việc tìm
hiểu kiến thức. Việc giải quyết các vấn đề thực tế giúp học sinh nhận thức được tầm
quan trọng của khoa học và ứng dụng của nó trong cuộc sống. Để trả lời các câu hỏi
thực tiễn, học sinh cần phải phân tích thông tin, đánh giá các lựa chọn và đưa ra giải
pháp phù hợp. Quá trình này giúp học sinh rèn luyện tư duy phản biện, logic và khả
năng giải quyết vấn đề.
Hạn chế của dạng câu hỏi này là khó khăn trong việc đánh giá hơn các dạng câu
hỏi truyền thống và giáo viên cần chọn câu hỏi có mức độ phù hợp với mặt bằng chung
sức học của cả lớp.
Ví dụ minh họa:
Hiển thị 5 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!