Trang 1
BÀI 42. BẢO TOÀN NĂNG LƯỢNG VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG
CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi từ 1 dến 5:
Trong đời sống hàng ngày, năng lượng không tự sinh ra hay mất đi, mà chỉ chuyển hóa hoặc
truyền từ vật này sang vật khác. Khi ta bật quạt điện, điện năng được chuyển hóa thành động
năng làm quay cánh quạt, đồng thời tỏa nhiệt và phát ra tiếng động – đó là dạng năng lượng
hao phí. Một ví dụ điển hình khác là đèn tín hiệu giao thông sử dụng pin mặt trời. Ban ngày,
tấm pin mặt trời hấp thụ quang năng từ ánh sáng Mặt Trời và chuyển hóa thành điện năng.
Điện năng này sau đó được lưu trữ vào pin và dùng để cấp điện cho đèn tín hiệu vào ban
đêm.
Trong quá trình hoạt động, một phần năng lượng sẽ chuyển thành nhiệt năng và không còn
được sử dụng – gọi là năng lượng hao phí. Theo định luật bảo toàn năng lượng, tổng năng
lượng trước và sau các quá trình chuyển hóa luôn bằng nhau, nhưng chỉ một phần là năng
lượng có ích. Việc hiểu rõ nguyên lý này giúp con người tìm ra các giải pháp tiết kiệm năng
lượng, như: sử dụng bóng đèn LED, tắt thiết bị khi không sử dụng, hoặc thiết kế thiết bị
chuyển hóa hiệu quả hơn. Trong thời đại biến đổi khí hậu và khủng hoảng năng lượng, mỗi
hành động tiết kiệm năng lượng dù nhỏ cũng góp phần vào sự phát triển bền vững.
Câu 1: Tấm pin mặt trời hấp thụ loại năng lượng nào từ Mặt Trời?
A. Hóa năng B. Quang năng C. Cơ năng D. Nhiệt năng
Câu 2: Khi đèn giao thông dùng điện từ pin năng lượng mặt trời, dạng năng lượng nào đã
được chuyển hóa?
A. Quang năng → Hóa năng B. Nhiệt năng → Điện năng
C. Quang năng → Điện năng → Quang năng D. Điện năng → Hóa năng
Câu 3: Tại sao nói đèn giao thông dùng năng lượng mặt trời là một cách sử dụng năng lượng
hiệu quả và bền vững?
A. Vì không gây hại cho môi trường
B. Vì ánh sáng Mặt Trời có sẵn và tái tạo
C. Vì pin mặt trời không cần thay
D. Cả A và B đúng
Câu 4: Trong hệ thống đèn giao thông dùng năng lượng mặt trời, nếu trời mưa liên tục nhiều
ngày, vấn đề gì có thể xảy ra?
1
Trang 2
A. Quá tải năng lượng do không sử dụng hết
B. Pin bị nổ do hấp thụ nhiệt quá nhiều
C. Hệ thống hết điện do không có nguồn quang năng để nạp
D. Đèn sáng mạnh hơn bình thường
Câu 5: Một học sinh nhận xét: “Năng lượng ban đầu từ ánh sáng mặt trời đã hoàn toàn được
biến đổi thành ánh sáng của đèn tín hiệu, không có phần nào bị mất.” Nhận xét này có chính
xác không? Vì sao?
A. Đúng, vì năng lượng luôn được bảo toàn.
B. Sai, vì có phần năng lượng chuyển thành nhiệt.
C. Đúng, vì hệ thống pin rất hiệu quả.
D. Sai, vì ánh sáng ban đầu không đủ để phát điện.
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi từ 1 dến 5:
Trong mọi quá trình sử dụng năng lượng, luôn có một phần năng lượng bị chuyển hóa sang
dạng không mong muốn – gọi là năng lượng hao phí. Ví dụ, khi bật quạt điện, điện năng
được chuyển thành động năng làm quay cánh quạt, nhưng một phần không nhỏ cũng bị
chuyển thành nhiệt năng và âm thanh – những dạng năng lượng không phục vụ mục đích
chính.
Theo nghiên cứu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế
(IEA), trong các thiết bị điện dân dụng phổ biến, năng
lượng hao phí có thể chiếm từ 10% đến 40% tổng
năng lượng tiêu thụ, tùy thiết bị. Với bóng đèn sợi đốt
truyền thống, chỉ khoảng 5–10% điện năng được biến
thành ánh sáng, còn lại tới 90–95% bị chuyển thành
nhiệt năng và mất đi. Ngược lại, bóng đèn LED có
hiệu suất cao hơn, với trên 80% năng lượng được dùng để phát sáng. Việc giảm năng lượng
hao phí không chỉ giúp tiết kiệm chi phí điện mà còn góp phần bảo vệ môi trường, giảm phát
thải khí nhà kính từ các nhà máy điện. Do đó, hiểu rõ bản chất của năng lượng hao phí giúp
người tiêu dùng đưa ra các lựa chọn thông minh hơn trong sinh hoạt hàng ngày và góp phần
vào sử dụng năng lượng bền vững hơn.
Câu 1: Dạng năng lượng nào sau đây thường là năng lượng hao phí trong quá trình sử dụng
quạt điện?
A. Quang năng B. Hóa năng C. Nhiệt năng và âm thanh D. Thế năng
Câu 2: Vì sao bóng đèn sợi đốt được xem là thiết bị gây hao phí năng lượng lớn?
A. Vì sử dụng điện xoay chiều B. Vì phát ra ánh sáng nhiều màu
C. Vì phần lớn điện năng chuyển thành nhiệt thay vì ánh sáng
D. Vì cấu tạo phức tạp nên tiêu hao điện khi khởi động
2
Trang 3
Câu 3: Một gia đình thay toàn bộ 10 bóng đèn sợi đốt 100W bằng bóng đèn LED 20W có
hiệu suất cao hơn. Về mặt năng lượng hao phí, điều gì sẽ thay đổi?
A. Không thay đổi vì tổng công suất giảm
B. Nhiệt năng hao phí giảm đáng kể
C. Âm thanh phát ra tăng
D. Ánh sáng phát ra yếu hơn
Câu 4: Nếu một thiết bị chuyển hóa 1000J điện năng nhưng chỉ tạo ra 600J năng lượng có
ích, phần năng lượng còn lại là:
A. 400J năng lượng hao phí, có thể tái sử dụng
B. 400J năng lượng hao phí, chủ yếu là nhiệt và không thể thu hồi
C. Năng lượng mất mát không liên quan
D. Cả 600J và 400J đều không bảo toàn năng lượng
Câu 5: Một học sinh nói: "Nếu năng lượng luôn được bảo toàn, thì khái niệm năng lượng hao
phí là sai." Em hãy nhận xét về ý kiến này.
A. Sai, vì năng lượng hao phí là phần năng lượng vẫn tồn tại nhưng không phục vụ mục đích
có ích
B. Đúng, vì năng lượng không mất đi nên không có gì gọi là hao phí
C. Sai, vì năng lượng hao phí là do điện năng bị hủy
D. Đúng, vì hiệu suất thiết bị luôn bằng 100%
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi từ 1 dến 5:
Truyền năng lượng là quá trình năng lượng được chuyển từ vật này
sang vật khác, có thể giữ nguyên hoặc thay đổi dạng tùy theo quá trình.
Một ví dụ điển hình là khi người đẩy xe hàng: người cung cấp năng
lượng cho xe thông qua tiếp xúc vật lý, khiến xe chuyển động – tức là
năng lượng cơ học được truyền từ người sang xe.
Trong tự nhiên và kỹ thuật, hiện tượng này rất phổ biến. Khi ta khuấy
một ly nước bằng thìa kim loại, năng lượng từ tay truyền qua thìa sang
nước làm nước chuyển động. Một ví dụ khác là trong cơ thể người, khi
ta cầm một vật nặng, cơ tay truyền năng lượng cơ học sang vật để nâng lên. Theo nguyên lý
vật lý, quá trình truyền năng lượng tuân theo định luật bảo toàn năng lượng: tổng năng lượng
không bị mất đi mà chỉ chuyển từ vật này sang vật khác. Tốc độ và hiệu quả truyền năng
lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như diện tích tiếp xúc, vật liệu trung gian, môi trường
truyền. Trong ngành kỹ thuật, các hệ thống truyền động như bánh răng, trục quay, dây
curoa… đều dựa vào cơ chế truyền năng lượng cơ học để truyền lực từ động cơ tới các bộ
phận chuyển động. Hiểu rõ hiện tượng truyền năng lượng giúp tối ưu hóa hiệu suất của máy
móc và an toàn khi vận hành.
Câu 1: Trong ví dụ người đẩy xe hàng, năng lượng đã được truyền từ đâu đến đâu?
3
Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!