[Luận văn thạc sĩ]_ Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương
- 页数
- 101
- 格式
- 大小
- 806 KB
- 语言
- VI · Tiếng Việt
- 浏览量
- 298
- 评论
- 0
- 下载次数
- 0
正在生成预览...
- 文档名称
- [Luận văn thạc sĩ]_ Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương
- 目录
- 此文档没有清晰的目录。
- 页数
- 101 页
- 上传者
- ThiNganHang
正在生成详细摘要。请几分钟后回来查看。
描述
Trích nội dung tài liệu
LUẬN VĂN: Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Môi trường là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người của sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc và toàn nhân loại. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vấn đề bảo vệ môi trường càng trở nên bức bách. Đó không chỉ là vấn đề của hiện tại mà còn là của tương lai mà chúng ta phải quan tâm và chủ động giải quyết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Công nghiệp hoá là giai đoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia từ một nền kinh tế nông nghiệp, kém phát triển trở thành một nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là vấn đề quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta trên con đường thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, các khu công nghiệp, khu chế xuất (sau đây gọi chung là khu công nghiệp – KCN) có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vận dụng kinh nghiệm thế giới vào thực tế Việt Nam từ năm 1991 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thí điểm và triển khai việc xây dựng các KCN. Qua 17 năm, quá trình này đã có những bước tiến dài, cả nước đã có 194 KCN được thành lập, với tổng diện tích đất tự nhiên 46.588 ha, phân bổ rộng khắp các miền đất nước, thu hút được hơn 3.325 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư là 39,3 tỷ USD và 3.082 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn 185000 tỷ đồng Việt Nam, tạo việc làm cho 1,1 triệu lao động. Các khu công nghiệp này đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của các KCN đối với nền kinh tế thì quá trình này đặt ra một thách thức vô cùng to lớn mang tính toàn cầu, đó là nạn ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất công nghiệp gây ra. Ô nhiễm môi trường làm thiệt hại to lớn về kinh tế và xã hội. Lương thực, thực phẩm bị nhiễm độc do chất thải công nghiệp, gây ngộ độc cho người tiêu dùng... môi trường thiên nhiên bị huỷ hoại do hoạt động của các khu công nghiệp. Phát triển KCN tạo ra tốc độ tăng trưởng cao. Nhưng phát triển KCN và quản lý như thế nào để vừa có sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, đồng thời vừa giữ gìn bảo vệ môi trường là một thách thức to lớn. Chỉ có vượt qua thách thức đó, Việt Nam mới xây dựng được một nền kinh tế phát triển bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hoá ở nước ta trong thời gian qua đã có tác động tích cực tới vấn đề môi trường. Việt Nam có điều kiện tiếp thu công nghệ cao, công nghệ hiện đại. Điều này đồng nghĩa với khả năng hạn chế những tiêu cực tới môi trường từ sản xuất kinh doanh. Đồng thời có cơ hội tiếp nhận thông tin, kiến thức nhất là lĩnh vực bảo vệ môi trường, có điều kiện học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác trong việc xử lý hài hoà mối quan hệ giữa thương mại và môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi phải có pháp luật để điều chỉnh. Vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 ( sửa đổi, bổ sung năm 2005) và hàng loạt hệ thống chính sách, văn bản pháp luật quan trọng về bảo vệ môi trường được ban hành. Đặc biệt, trước yêu cầu của thực tiễn khách quan. Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm vấn đề bảo vệ môi trường. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 28/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ban hành ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.. - Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003
常见问题
我该如何下载此文档?
文档“[Luận văn thạc sĩ]_ Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương”的价格为 84,000đ。请通过 PayOS 充值您的钱包,然后点击“下载”以购买并保存原始文件。
这份文档有多少页?
该文档共有 101 页。您可以在下载前进行在线预览。
我可以在下载前预览吗?
是的。您可以通过在线阅读器直接在本页面预览此文档(前几页),然后再决定是否下载。
[Luận văn thạc sĩ]_ Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương
正在生成预览...
Trích nội dung tài liệu
LUẬN VĂN: Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Môi trường là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người của sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc và toàn nhân loại. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vấn đề bảo vệ môi trường càng trở nên bức bách. Đó không chỉ là vấn đề của hiện tại mà còn là của tương lai mà chúng ta phải quan tâm và chủ động giải quyết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Công nghiệp hoá là giai đoạn phát triển tất yếu của mọi quốc gia từ một nền kinh tế nông nghiệp, kém phát triển trở thành một nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là vấn đề quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta trên con đường thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, các khu công nghiệp, khu chế xuất (sau đây gọi chung là khu công nghiệp – KCN) có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vận dụng kinh nghiệm thế giới vào thực tế Việt Nam từ năm 1991 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thí điểm và triển khai việc xây dựng các KCN. Qua 17 năm, quá trình này đã có những bước tiến dài, cả nước đã có 194 KCN được thành lập, với tổng diện tích đất tự nhiên 46.588 ha, phân bổ rộng khắp các miền đất nước, thu hút được hơn 3.325 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư là 39,3 tỷ USD và 3.082 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn 185000 tỷ đồng Việt Nam, tạo việc làm cho 1,1 triệu lao động. Các khu công nghiệp này đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của các KCN đối với nền kinh tế thì quá trình này đặt ra một thách thức vô cùng to lớn mang tính toàn cầu, đó là nạn ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất công nghiệp gây ra. Ô nhiễm môi trường làm thiệt hại to lớn về kinh tế và xã hội. Lương thực, thực phẩm bị nhiễm độc do chất thải công nghiệp, gây ngộ độc cho người tiêu dùng... môi trường thiên nhiên bị huỷ hoại do hoạt động của các khu công nghiệp. Phát triển KCN tạo ra tốc độ tăng trưởng cao. Nhưng phát triển KCN và quản lý như thế nào để vừa có sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, đồng thời vừa giữ gìn bảo vệ môi trường là một thách thức to lớn. Chỉ có vượt qua thách thức đó, Việt Nam mới xây dựng được một nền kinh tế phát triển bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hoá ở nước ta trong thời gian qua đã có tác động tích cực tới vấn đề môi trường. Việt Nam có điều kiện tiếp thu công nghệ cao, công nghệ hiện đại. Điều này đồng nghĩa với khả năng hạn chế những tiêu cực tới môi trường từ sản xuất kinh doanh. Đồng thời có cơ hội tiếp nhận thông tin, kiến thức nhất là lĩnh vực bảo vệ môi trường, có điều kiện học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác trong việc xử lý hài hoà mối quan hệ giữa thương mại và môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi phải có pháp luật để điều chỉnh. Vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 ( sửa đổi, bổ sung năm 2005) và hàng loạt hệ thống chính sách, văn bản pháp luật quan trọng về bảo vệ môi trường được ban hành. Đặc biệt, trước yêu cầu của thực tiễn khách quan. Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm vấn đề bảo vệ môi trường. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 28/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ban hành ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.. - Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003
- 文档名称
- [Luận văn thạc sĩ]_ Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương
- 目录
- 此文档没有清晰的目录。
- 页数
- 101 页
- 上传者
- ThiNganHang
正在生成详细摘要。请几分钟后回来查看。
评论 (0)
暂无评论。快来抢沙发吧!
Tiểu luận - Phân tích Lý thuyết bàn tay vô hình của A.Smith và những bài học cho Việt Nam
[Báo cáo thực tập] Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Sunhouse
Bài tiểu luận 9,5 điểm - Chuyên Đề Khởi Sự kinh doanh về ý tưởng khởi nghiệp
[Khóa luận] Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Cơ khí xây dựng VDC
[Đề án] Xuất khẩu vải thiều Bắc Giang vào thị trường Mỹ
Tiểu luận - Kinh tế phát triển - Phân tích nhận định "Việt Nam đã kiên định chọn hướng phát triển lấy con người làm trọng tâm ..."
Đề cương - Luật vận tải
600 Câu trắc nghiệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tài liệu ôn tập Nguyên lý kế toán
Bài tập Xác suất thống kê đại học - có lời giải

评论 (0)
暂无评论。快来抢沙发吧!