Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư
Đang tạo bản xem trước...
Mô tả
Facebook: @ www.facebook.com/ S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư. Giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở nước ta I. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI ĐẦU TƯ (5 nhân tố) 1. Lợi nhuận kì vọng (xét trên góc độ cầu đầu tư) Theo lý thuyết của Keynes, có 2 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp: Lợi nhuận kì vọng & Lãi suất thực tế Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hi vọng sẽ thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư. Nếu lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn lãi suất tiền vay đầu tư thì nhà đầu tư mở rộng quy mô, tức chi đầu tư tăng vì niềm tin của mọi người vào doanh số bán hàng và sản lượng trong tương lai. Với các yếu tố khác giữ nguyên, mức sản lượng tương lai được kỳ vọng cao hơn sẽ làm tăng mức lợi nhuận tương lai được kỳ vọng và do vậy làm tăng cầu đầu tư vào các trang thiết bị mới (mở rộng quy mô đầu tư, tăng vốn đầu tư). Do đó tăng chi tiêu đầu tư hiện tại. Và ngược lại, nếu lợi nhuận kỳ vọng thấp và nhỏ hơn lãi suất tiền vay đầu tư thì nhà đầu tư cắt giảm quy mô đầu tư tức giảm chi đầu tư mà thay vào đó họ gửi tiền vào ngân hàng. Theo lý thuyết Keynes, hiệu quả biên của vốn phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận VĐT của số tiền đầu tư mới. Do đó VĐT càng tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần Nguyên nhân: 1. Đứng trên phương diện cầu VĐT. Khi đầu tư tăng làm cho nhu cầu VĐT cũng tăng theo, khiến giá cả của “hàng hoá vốn” cũng tăng (tức lãi suất tiền vay đầu tư tăng). Giả sử các khoản chi phí sản xuất khác không đổi thì giá cả của một đơn vị sản phẩm không đổi. Khi lãi suất tiền vay tăng lên thì chi phí tiền vay tăng lên như vậy làm lợi nhuận thu được trên một đơn vị sản phẩm giảm. Như vậy, tổng lợi nhuận tạo ra giảm và tỷ suất lợi nhuận biên VĐT giảm theo. 2. Đứng trên phương diện cung sản phẩm. Kết quả của việc tăng cung VĐT (mở rộng quy mô đầu tư) là sản phẩm hàng hoá – dịch vụ cung cấp cho thị trường tăng lên; khi cung về hàng hoá – dịch vụ tăng (giả sử các khoản chi phí sản xuất khác không đổi) thì làm cho giá của một đơn vị sản phẩm giảm. Như vậy kéo theo là lợi nhuận thu được trên một đơn vị sản phẩm giảm => Tổng lợi nhuận thu được giảm nên tỷ suất lợi nhuận biên VĐT cũng giảm. 3. Xuất phát từ năng suất lao động. Khi gia tăng vốn đầu tư vào sản xuất thì sự gia tăng về kĩ thuật, công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho mỗi lao động cũng giảm dần, nghĩa là khi lượng vốn còn ít thì mỗi sự gia tăng của 1 đơn vị vốn sẽ làm cho năng suất lao động gia tăng nhiều hơn so với khi lượng vốn nhiều. Năng suất lao động biên giảm dần dẫn đến lợi nhuận biên của vốn cũng giảm dần. Quy mô vốn đầu tư tăng dần làm hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các nhà đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư cho tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn mức lãi suất vốn vay trên thị trường vốn. Khi hiệu quả biên của vốn thấp hơn lãi suất vốn vay, nghĩa là lợi nhuận tăng Facebook: @ www.facebook.com/ S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2 thêm thấp hơn chi phí tăng thêm thì các nhà đầu tư sẽ ngừng việc đưa thêm vốn vào mở rộng sản xuất. Điểm cân bằng là điểm hiệu quả biên của vốn bằng với lãi suất cho vay của ngân hàng. Trong thực tế, việc tính toán chính xác tỉ suất lợi nhuận biên là một vấn đề khó khăn. Tuy nhiên, triển vọng đầu tư lại chính là nhân tố để kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh. Do lợi nhuận khó xác định, có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu được khoản lợi nhuận cao đó. Tuy nhiên, bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra. Đó là tính 2 mặt của hoạt động đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kì vọng. 2. Lợi nhuận thực tế (Xét trên góc độ cung vốn đầu tư) Theo lý thuyết quỹ nội bộ đầu tư: I = f (lợi nhuận thực tế). Lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp là khoản còn lại của tổng doanh thu sau khi đã trừ đi tổng chi phí và thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Một phần lợi nhuận đó được giữ lại không phân phối được gọi là lợi nhuận để l
Tóm tắt AI
- Tên tài liệu
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư
- Mục lục
- Tài liệu không có mục lục rõ ràng.
- Số trang
- 7 trang
- Người đăng
- ThiNganHang
Bản tóm tắt chi tiết đang được tạo. Quay lại sau ít phút nhé.
Câu hỏi thường gặp
Tài liệu này có miễn phí không?
Có. “Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư” miễn phí — bạn chỉ cần đăng nhập rồi bấm Tải xuống để lấy file gốc.
Tài liệu dài bao nhiêu trang?
Tài liệu gồm 7 trang. Bạn có thể xem trước online trước khi tải.
Tôi có thể xem trước trước khi tải không?
Có. Bạn xem trước tài liệu ngay trên trang này bằng trình đọc online, rồi quyết định tải về.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư
Đang tạo bản xem trước...
Facebook: @ www.facebook.com/ S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư. Giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở nước ta I. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI ĐẦU TƯ (5 nhân tố) 1. Lợi nhuận kì vọng (xét trên góc độ cầu đầu tư) Theo lý thuyết của Keynes, có 2 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp: Lợi nhuận kì vọng & Lãi suất thực tế Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hi vọng sẽ thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư. Nếu lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn lãi suất tiền vay đầu tư thì nhà đầu tư mở rộng quy mô, tức chi đầu tư tăng vì niềm tin của mọi người vào doanh số bán hàng và sản lượng trong tương lai. Với các yếu tố khác giữ nguyên, mức sản lượng tương lai được kỳ vọng cao hơn sẽ làm tăng mức lợi nhuận tương lai được kỳ vọng và do vậy làm tăng cầu đầu tư vào các trang thiết bị mới (mở rộng quy mô đầu tư, tăng vốn đầu tư). Do đó tăng chi tiêu đầu tư hiện tại. Và ngược lại, nếu lợi nhuận kỳ vọng thấp và nhỏ hơn lãi suất tiền vay đầu tư thì nhà đầu tư cắt giảm quy mô đầu tư tức giảm chi đầu tư mà thay vào đó họ gửi tiền vào ngân hàng. Theo lý thuyết Keynes, hiệu quả biên của vốn phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận VĐT của số tiền đầu tư mới. Do đó VĐT càng tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần Nguyên nhân: 1. Đứng trên phương diện cầu VĐT. Khi đầu tư tăng làm cho nhu cầu VĐT cũng tăng theo, khiến giá cả của “hàng hoá vốn” cũng tăng (tức lãi suất tiền vay đầu tư tăng). Giả sử các khoản chi phí sản xuất khác không đổi thì giá cả của một đơn vị sản phẩm không đổi. Khi lãi suất tiền vay tăng lên thì chi phí tiền vay tăng lên như vậy làm lợi nhuận thu được trên một đơn vị sản phẩm giảm. Như vậy, tổng lợi nhuận tạo ra giảm và tỷ suất lợi nhuận biên VĐT giảm theo. 2. Đứng trên phương diện cung sản phẩm. Kết quả của việc tăng cung VĐT (mở rộng quy mô đầu tư) là sản phẩm hàng hoá – dịch vụ cung cấp cho thị trường tăng lên; khi cung về hàng hoá – dịch vụ tăng (giả sử các khoản chi phí sản xuất khác không đổi) thì làm cho giá của một đơn vị sản phẩm giảm. Như vậy kéo theo là lợi nhuận thu được trên một đơn vị sản phẩm giảm => Tổng lợi nhuận thu được giảm nên tỷ suất lợi nhuận biên VĐT cũng giảm. 3. Xuất phát từ năng suất lao động. Khi gia tăng vốn đầu tư vào sản xuất thì sự gia tăng về kĩ thuật, công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho mỗi lao động cũng giảm dần, nghĩa là khi lượng vốn còn ít thì mỗi sự gia tăng của 1 đơn vị vốn sẽ làm cho năng suất lao động gia tăng nhiều hơn so với khi lượng vốn nhiều. Năng suất lao động biên giảm dần dẫn đến lợi nhuận biên của vốn cũng giảm dần. Quy mô vốn đầu tư tăng dần làm hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các nhà đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư cho tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn mức lãi suất vốn vay trên thị trường vốn. Khi hiệu quả biên của vốn thấp hơn lãi suất vốn vay, nghĩa là lợi nhuận tăng Facebook: @ www.facebook.com/ S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2 thêm thấp hơn chi phí tăng thêm thì các nhà đầu tư sẽ ngừng việc đưa thêm vốn vào mở rộng sản xuất. Điểm cân bằng là điểm hiệu quả biên của vốn bằng với lãi suất cho vay của ngân hàng. Trong thực tế, việc tính toán chính xác tỉ suất lợi nhuận biên là một vấn đề khó khăn. Tuy nhiên, triển vọng đầu tư lại chính là nhân tố để kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh. Do lợi nhuận khó xác định, có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu được khoản lợi nhuận cao đó. Tuy nhiên, bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra. Đó là tính 2 mặt của hoạt động đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kì vọng. 2. Lợi nhuận thực tế (Xét trên góc độ cung vốn đầu tư) Theo lý thuyết quỹ nội bộ đầu tư: I = f (lợi nhuận thực tế). Lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp là khoản còn lại của tổng doanh thu sau khi đã trừ đi tổng chi phí và thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Một phần lợi nhuận đó được giữ lại không phân phối được gọi là lợi nhuận để l
Đọc toàn bộ tài liệu
- Tên tài liệu
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư
- Mục lục
- Tài liệu không có mục lục rõ ràng.
- Số trang
- 7 trang
- Người đăng
- ThiNganHang
Bản tóm tắt chi tiết đang được tạo. Quay lại sau ít phút nhé.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
240 câu hỏi Kinh tế học kèm Đáp án và Giải thích
Trắc nghiệm Kinh tế môi trường (Có Đáp án)
Trắc nghiệm Đúng Sai - Kinh tế phát triển (Có Đáp án)
Mẫu hợp đồng chuyên chở tàu chuyến GENCON 1994
Công thức lý thuyết thặng dư- Kinh tế chính trị Mác-Lenin
Tiểu luận - Kinh tế phát triển - Phân tích nhận định "Việt Nam đã kiên định chọn hướng phát triển lấy con người làm trọng tâm ..."
600 Câu trắc nghiệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề cương - Luật vận tải
Tài liệu ôn tập Nguyên lý kế toán
Bài tập Xác suất thống kê đại học - có lời giải
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!