Trang 1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG LỚP HỌC HẠNH PHÚC
1. Lý do chọn đề tài
“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui!”. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã
từng đọc, từng nghe và thấy câu khẩu hiệu này. Mỗi người sẽ có một cách cảm
nhận của riêng mình và đối với mỗi vai trò thì “niềm vui” lại mang ý nghĩa khác
nhau.
Đối với HS để “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” thì trước hết trường
phải là nơi HS muốn đến, là nơi mà có “lớp học hạnh phúc”. Một lớp học hạnh
phúc sẽ tạo môi trường học tập tích cực, khuyến khích HS tham gia tích cực vào
quá trình học tập. Môi trường tích cực này giúp HS dễ dàng tập trung, tăng cường
sự hiếu học và khám phá sự hứng thú trong việc học. Trong một lớp học hạnh
phúc, điều kiện được tạo để HS tương tác, giao tiếp và hợp tác với nhau. Điều này
giúp phát triển kỹ năng xã hội của HS như khả năng lắng nghe, thể hiện ý kiến,
chia sẻ và làm việc nhóm. Những kỹ năng này rất quan trọng trong cuộc sống hàng
ngày và trong tương lai của học sinh. Một lớp học hạnh phúc giúp xây dựng sự tự
tin và tự trọng cho học sinh. Khi HS cảm thấy thoải mái và được chấp nhận trong
lớp học, HS dễ dàng vượt qua sự e ngại và tăng cường lòng tin vào khả năng của
mình. Sự tự tin và tự trọng là những yếu tố quan trọng để HS thành công trong học
tập và đạt được mục tiêu trong cuộc sống. Một lớp học hạnh phúc tạo điều kiện để
HS xây dựng tình cảm và lòng tôn trọng đối với nhau và đối với GV.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG LỚP
HỌC HẠNH PHÚC” để đưa ra những biện pháp giúp HS giảm áp lực khi đến
trường, thấy thích thú và vui vẻ hơn khi đến trường.
2. Mục đích của đề tài
Tôi nghiên cứu chọn đề tài nhằm tìm hiểu và xây dựng lớp chủ nhiệm thành lớp
học hạnh phúc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu ở lớp chủ nhiệm khối cấp 3
- Thực nghiệm tại trường THCS & THPT ………………
- Thời gian thực hiện: Từ đầu năm học ……… đến năm học ………
1
Trang 2
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông:
Lứa tuổi HS phổ thông là nhóm học sinh đầu tuổi thanh niên từ 15, 16 tuổi đến
17, 18 tuổi. Đây cũng là độ tuổi HS mà có những khó khăn về tâm lý nhiều nhất, nó
có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như áp lực học tập, áp lực thi cử,
áp lực gia đình và xã hội. Trong đó học tập được coi là nhiệm vụ chính, tuy nhiên,
trong giai đoạn này, các em thường gặp phải những khó khăn lớn trong học tập,
như:
- Chương trình học nặng: Lượng kiến thức ở giai đoạn này khá lớn và mang tính
chuyên sâu, trọng điểm. Đòi hỏi HS phải có khả năng tiếp thu và xử lý kiến thức
tốt và cần sự chăm chỉ và nỗ lực hơn rất nhiều so với cấp học khác. Mức độ tiếp thu
của mỗi HS lại ở mức khác nhau nên dù chung xuất phát điểm tại một lớp và một
thầy cô như nhau nhưng cũng có những học sinh có học lực trung bình hoặc yếu,
còn có những học sinh lại có mức học khá – giỏi trở lên.
- Áp lực thi cử: Thi cử là một phần tất yếu trong quá trình học tập, đặc biệt đối với
những HS cuối cấp phổ thông tần suất thi cử ngày càng lớn, những kì thi khảo sát,
kì kiểm tra chung mỗi kì và những kì thi thử tốt nghiệp nối tiếp nhau, điều đó khiến
nhiều học sinh cảm thấy căng thẳng, lo lắng và thậm chí là sợ những kì thi.
- Môi trường học tập cạnh tranh: cạnh tranh trong học tập là một yếu tố tất yếu,
đặc biệt là trong giai đoạn thi cử. Từ cạnh tranh nhau thứ hạng trong các kì thi
chung hay đơn giản là vị trí xếp hạng trong lớp
- Dễ bị phân tâm bới các yếu tố bên ngoài: các yếu tố bên ngoài như mạng xã hội
Facebook, Instagram, Tiktok.... đều có thể khiến HS dễ bị phân tâm, giảm hiệu quả
học tập và khó tập trung vào việc học. Mặc dù những nền tảng mạng xã hội có thể
giúp giải tỏa những mệt mỏi, mang đến những niềm vui sau những giờ học căng
thẳng nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến thái độ
sống, đến sự hình thành phát triển nhân cách của HS. Thậm chí có những nội dung
xấu, xuyên tạc cũng làm cho học sinh dễ bị hoang mang, dao động và học theo
những thói hư tật xấu đó.
- Tuổi học trò là lứa tuổi dễ nhạy cảm, dễ bị tổn thương, rất dễ xúc động, dễ vui
dễ buồn, khả năng kiềm chế cảm xúc còn kém nên nhiều khi băn khoăn, lo lắng và
bất an. Những mối quan hệ bạn bè trong trường, lớp đôi khi còn xảy ra những xung
đột, cãi vã hay thậm chí bạo lực.
Chính vì những lí do trên mà đôi khi vừa mới bước chân vào lớp 10, ai cũng từng
có suy nghĩ ba năm học cấp ba sao dài đến thế. Đặc biệt là những lúc kiểm tra, áp
lực thi cử, điểm số, cãi vã với bạn bè, lúc đó ta chỉ mong sao cho thời gian trôi qua
2
Trang 3
thật nhanh để mau chóng được ra trường, mau chóng được tự do bay nhảy, làm
những điều mà ta yêu thích. Bởi vậy để HS cảm thấy hứng thú và giảm áp lực khi
đến trường, thấy được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Bên cạnh đó, học
sinh cảm thấy có niềm tin, có rung động, có động lực khi đến lớp và dễ nhớ nhung
nếu không đến lớp. Đó chính là một lớp học hạnh phúc. Và xây dựng lớp học hạnh
phúc là điều cần thiết.
1.2. Khái niệm về lớp học hạnh phúc
Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người mang tính tích cực và theo
nhiều nghiên cứu còn cho thấy người hạnh phúc là người tràn đầy năng lượng, vui
vẻ, có cảm xúc tích cực, tươi vui, yêu cuộc sống và mọi thứ xung quanh.
Tôi đã làm một khảo sát nhỏ khi cho HS lớp chủ nhiệm viết một đoạn văn ngắn
với nội dung “Theo em, thế nào là một lớp học hạnh phúc”. Sau khi đọc mỗi bài
viết của học sinh tôi thấy rằng, mỗi HS sẽ có một tiêu chuẩn riêng về “lớp học
hạnh phúc”. Có học sinh nhận định rằng “LHHP là nơi thầy cô, học sinh, cán bộ và
nhân viên được an toàn, được tôn trọng, được yêu thương, được học tập. Tiêu chí
của LHHP là nơi mà HS không chỉ được tiếp thu kiến thức mà còn được vui chơi,
giải trí, là nơi không có bạo lực học đường,..”; nhưng cũng có HS nhận định
“LHHP là lớp học mà nơi đó có những tiếng cười, những trò đùa nghịch ngợm của
HS, là nơi có mối quan hệ như những người thân được chia sẻ, được tôn trọng...”
Vậy thì nhìn chung LHHP là nơi khiến cho HS đều có cảm giác “muốn đến”, là nơi
HS được sự “Yêu thương – Chia sẻ - An toàn và Tôn trọng”.
1.3. Vai trò của GVCN trong xây dựng lớp học hạnh phúc
GVCN đảm nhiệm vai trò trong việc dẫn dắt và dạy bảo HS. Trong một tập thể
lớp GVCN có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách HS một cách toàn
diện. Bởi lẽ họ là người trực tiếp đảm đương vai trò quản lí HS trong một lớp, trực
tiếp tổ chức cho HS thực hiện mọi yêu cầu giáo dục do Nhà trường đặt ra. GVCN
cũng là người gần gũi HS nhất, nắm bắt hoàn cảnh HS và từ đó hiểu rõ tâm tư tình
cảm của HS, luôn trực tiếp uốn nắn kịp thời những hành vi sai trái, hướng các em
có thái độ sống tích cực, đúng đắn, phát triển nhân cách toàn diện. Đó là mục tiêu
mà tất cả chúng ta đều hướng đến vì tương lai của HS.
1.4. Tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc
Theo tôi, để xây dựng một lớp học hạnh phúc cần đảm bảo 4 tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Được yêu thương
Lứa tuổi HS phổ thông có sự thay đổi lớn về tâm lý, các em thích học theo cách
làm của người lớn, bướng bỉnh ương ngạnh, cái tôi rất cao và dễ bị lôi cuốn vào lối
sống buông thả. Nếu chỉ lấy biện pháp kỷ cương, kỷ luật ra để giáo dục các em
chắc sẽ khó thành công mà phải biết ứng xử phù hợp với tâm lý lứa tuổi và bằng cả
3
Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!