Ngữ âm học tiếng Anh

THThiNganHang
ダウンロード数: 1
10
0

資料の内容

1 ページ

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 24 (2008) 59-68 Những vấn đề cốt yếu của Ngữ âm học và Âm vị học Nguyễn Huy Kỷ* Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Dương Quảng Hàm, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Nhận ngày 14 tháng 02 năm 2008 Tóm tắt. Sau khi tổng hợp, phân tích và khẳng định những nội dung cơ bản có liên quan, bài Những vấn đề cốt yếu của Ngữ âm học và Âm vị học chủ yếu đề cập đến giá trị ngôn ngữ của lĩnh vực này trong quá trình giảng dạy, kiểm tra đánh giá ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng ở Việt Nam. Nếu quan tâm hơn nữa đến những đơn vị đoạn tính (như nguyên âm, phụ âm), các đơn vị siêu đoạn tính (như trọng âm, nhịp điệu, ngữ điệu…) và kiểm tra đánh giá ngoại ngữ, thì chắc chắn rằng trong một thời gian không xa, chất lượng dạy - học ngoại ngữ của chúng ta sẽ có hiệu quả tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu của ngành, của đất nước trong xu thế hội nhập và giao lưu quốc tế hiện nay. 1. Đặt vấn đề* 2. Một số nội dung cốt yếu của Ngữ âm học và Âm vị học Mới đọc qua tựa đề Những vấn đề cốt yếu của Ngữ âm học và Âm vị học thì tưởng như Cách phát âm (pronunciation) của một đơn giản, “xưa như trái đất”, nhưng thực ngôn ngữ luôn được nghiên cứu dưới 2 bình chất, để hiểu biết đầy đủ và cơ bản về vấn đề diện Ngữ âm học và Âm vị học [1-7]. Mặc dù đã nêu lại không đơn giản chút nào. Bởi vì, 2 ngành này đều nghiên cứu âm thanh, nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến nhưng giữa chúng có một số điểm khác biệt thức chắc chắn không những về ngôn ngữ cơ bản như sau: học mà còn về các ngành khoa học có liên quan, có hiểu biết và sử dụng được một ngôn 2.1. Ngữ âm học ngữ nào đó để minh họa hoặc làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu. Đó chính là vấn đề Ngữ âm học có tính phổ niệm (universal). vừa trừu tượng, vừa cụ thể về Ngữ âm học Do đó, một trong những nghiên cứu chủ yếu (Phonetics) và Âm vị học (Phonology) theo trong lĩnh vực này là các thuộc tính âm thanh quan niệm, quan điểm, cách tiếp cận khác có tính chất loài. Ngoài ra, Ngữ âm học còn nhau, đặc biệt là giá trị của chúng trong quá quan tâm đến việc nghiên cứu các âm tố ThiNganHang.com(speech sounds) - là những đơn vị âm thanh cụ trình dạy - học, kiểm tra đánh giá (KTĐG) thể của ngôn ngữ, có tính vô hạn vì mỗi âm ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng. tố được phát âm không bao giờ giống nhau, mặc dù do cùng một người thể hiện. Ngữ âm ______ học không những nghiên cứu quá trình tạo * ĐT: 84-4-8341848 sản âm thanh (speech production), mà còn E-mail: Century_6868@yahoo.com nghiên cứu quá trình thẩm nhận âm thanh 59 ThiNganHang.com

2 ページ

60 Nguyễn Huy Kỷ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 24 (2008) 59-68 (sound perception) cũng như quá trình truyền học giữa /s/ và /z/. Hơn thế nữa, ghi âm Âm âm thanh (transmission of sounds). Về phương vị học [4-6]; [8-10] cũng có cách thể hiện đặc diện ghi âm Ngữ âm học, bao giờ người ta thù của mình. Đó là mỗi âm vị bao giờ cũng cũng ghi âm các âm tố trong ngoặc vuông được biểu hiện bằng con chữ in thường […] và kèm theo các đặc trưng như tròn môi, (không phải con chữ in hoa hoặc chữ viết quặt lưỡi, ngạc hoá... Về mặt tiềm năng, Ngữ thông thường) trong 2 gạch chéo như /s/ và âm học không thể nghiên cứu tiến trình lịch /z/ đã nêu. Tận dụng các nội dung của Ngữ sử của âm thanh vì dung lượng âm thanh của âm học, Âm vị học nghiên cứu bản chất tín thế giới là đồng nhất. Do vậy, về lĩnh vực hiệu ngôn thanh trong một bối cảnh giao tiếp ngữ âm, không có Ngữ âm học văn minh hay cụ thể của một cộng đồng người cụ thể. Do Ngữ âm học lạc hậu, không có hệ thống ngữ âm tối ưu hay không tối ưu. Ngữ âm học đó, người ta có thể nói rằng, Âm vị học mang mang tính quốc tế và thuộc về ngành của tính dân tộc hoặc chủng tộc. Ngoài ra, Âm vị khoa học tự nhiên, sử dụng các phương tiện học còn nghiên cứu về tiến trình của một nghiên cứu của khoa học tự nhiên. Nói đến ngôn ngữ, mỗi âm vị trong một ngôn ngữ cụ Ngữ âm học, người ta nói đến 3 ngành có liên thể. Đó cũng là kết quả của những giao thoa quan nhưng có sự phân biệt tương đối rõ văn hoá của các tộc người khác nhau đang ràng [2-6]. Đó là Ngữ âm học cấu âm diễn ra trong lịch sử. Vậy, Âm vị học là Âm (Articulatory phonetics), Ngữ âm học âm học vị học của lịch sử tiến hoá. Đằng sau mỗi âm (Acoustic phonetics) và Ngữ âm học thính âm vị là lịch sử của một dân tộc; đằng sau mỗi (Auditory phonetics). Nếu Ngữ âm học cấu âm âm tố không có tính lịch sử nào hết bởi nó chỉ chuyên nghiên cứu cách thức các cơ quan cấu có tác dụng phân biệt âm thanh của từng cá âm được sử dụng để tạo âm, thì Ngữ âm học thể mà thôi. Âm vị học hình dung hệ thống chuyên nghiên cứu các đặc tính vật lí của âm thanh của một ngôn ngữ như sau: âm, còn Ngữ âm học thính âm lại chủ yếu - Danh sách các âm vị của ngôn ngữ đang nghiên cứu độ thính âm người nghe có thể xem xét (bao giờ cũng hữu hạn). nhận biết được. - Quan hệ của các âm vị ấy trong việc cấu thành hệ thống âm thanh của một ngôn ngữ. 2.2. Âm vị học Danh sách âm vị là sự liệt kê các đơn vị âm thanh có chức năng khu biệt nghĩa của Âm vị học nghiên cứu âm thanh của một một ngôn ngữ. Danh sách các âm vị ấy chỉ có cộng đồng người cụ thể, một ngôn ngữ cụ giá trị trong một ngôn ngữ, và hệ thống âm thể. Đối tượng nghiên cứu của Âm vị học là thanh ấy có thể được chia thành các đơn vị các âm vị (phonemes). Đó là những đơn vị âm chiết đoạn (segmental units), và các đơn vị thanh nhỏ nhất của ngôn ngữ, có tính hữu thượng chiết đoạn hoặc các đơn vị siêu chiết hạn, trừu tượng, nhưng có giá trị phân biệt đoạn (suprasegmental units). Chúng ta có thể giữa từ này và từ khác. Ví dụ trong tiếngThiNganHang.com hình dung hệ thống âm thanh của một ngôn Anh, từ “sip” (nhấp nháp, uống từng hớp) ngữ nào đó, chẳng hạn như tiếng Anh, trong khác với từ “zip” (cài hoặc mở bằng khoá sơ đồ như sau: kéo) do có sự khác biệt về nội dung Âm vị ThiNganHang.com

3 ページ

Nguyễn Huy Kỷ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 24 (2008) 59-68 61 Ngôn thanh (sounds) Các đơn vị đoạn Các đơn vị tính (segmental siêu đoạn tính units) (suprasegmental Nguyên âm Phụ âm Nội âm tiết Ngoại âm tiết (vowels) (consonants) (intrasyllabic) (intersyllabic) Kết vị Thanh vị Giọng điệu Biến điệu (juncture) (toneneme) (accents) (modulation ) Trọng âm Ngưng nghỉ Nhịp điệu Ngữ điệu (stress) (pause) (rhythm) (intonation) Theo sơ đồ trên, chúng ta thấy rằng, các khác nhau vì còn tuỳ thuộc vào mối tương đơn vị chiết đoạn lại tiếp tục được chia ra quan của các nét khu biệt có trong nội dung thành các đơn vị mang thuộc tính nguyên âm âm vị học (phonological content). Đó là thế đối (vowels) và phụ âm (consonants). Các đơn vị lập có/không (privative opposition), thế đối lập thượng chiết đoạn hoặc siêu đoạn tính thì tuỳ thuộc vào giá trị chức năng của đơn vị ấy thành bậc (gradual opposition) và thế đối lập nằm trong hay ngoài âm tiết mà được chia đẳng trị (equipolent opposition). thành các đơn vị khác nhau (prosodemes). 3.1. Thế đối lập có/không là một trong các thế 3. Các thế đối lập âm vị học (phonological đối lập mạnh trong Âm vị học vì nó được tạo oppositions) nên bởi sự hiện diện hay vắng mặt của một Theo các nhà ngôn ngữ học gạo cội [4-7] nét khu biệt nào đó, ví dụ: cho đến nay, có 3 loại thế đối lập âm vị họcThiNganHang.com/t/ = + Phụ âm (+ Âm bật (stopconsonant) ) /d/ = + Phụ âm (+ Âm bật (stopconsonant) ) + Âm răng (dental) + Âm răng (dental) + Vô thanh (voiceless) + Hữu thanh (voiced) ---------------------- ---------------------- Nội dung Âm vị học của /t/ Nội dung Âm vị học của /d/ ThiNganHang.com

最初の3ページを表示しています。全文を見るには資料をダウンロードしてください。

コメント (0)

ログイン して議論に参加する

まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!