第 1 页
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty – 6th ed. Niên khóa 2010-2012 Bài đọc Ch. 4: Định giá cổ phiếu thường ChChươươngng 44 ĐĐỊỊNHNH GGIIÁÁ CCỔỔ PHPHIIẾẾU TU THHƯƯỜỜNGNG Chúng tôi muốn cảnh báo với các bạn rằng các chuyên gia tài chính cũng có thể có những rủi ro nghề nghiệp. Tại các buổi tiệc tiếp tân, ta thường bị vây bọc bởi một số người luôn tìm cách giải thích hệ thống của họ giúp tạo ra lợi nhuận béo bở từ việc đầu tư vào cổ phiếu thường như thế nào. May mắn thay, các phiền toái này sẽ tạm thời lắng xuống mỗi khi thị trường rớt giá. Có thể chúng tôi đang thổi phồng các rủi ro của nghề này. Vấn đề là chẳng có cách nào dễ dàng để bảo đảm thu được suất sinh lợi vượt trội từ đầu tư. Ở các chương sau chúng tôi sẽ chứng tỏ rằng các biến động của giá chứng khoán cơ bản là không dự đoán được và đó là hậu quả tự nhiên của các thị trường vốn vận hành hoàn hảo. Do đó, ở chương này, khi chúng tôi đề nghị sử dụng khái niệm giá trị hiện tại để định giá cổ phiếu thường, chúng tôi không hứa hẹn một bí quyết giúp bạn đầu tư thành công; đơn giản chúng tôi chỉ tin rằng ý tưởng đó có thể giúp bạn hiểu tại sao một số chứng khoán được định giá cao hơn các chứng khoán khác. Tại sao bạn phải quan tâm đến điều này? Nếu bạn cần biết giá trị cổ phiếu của một hãng nào đó, tại sao bạn lại không thể tra cứu giá cổ phiếu trên báo chí? Đáng tiếc, điều đó không phải luôn luôn làm được. Ví dụ, bạn có thể là sáng lập viên của một doanh nghiệp thành công. Hiện nay bạn đang sở hữu toàn bộ cổ phần nhưng đang cân nhắc việc chuyển công ty thành một công ty cổ phần đại chúng bằng cách bán cổ phần cho các nhà đầu tư khác. Bạn và các cố vấn của mình cần phải ước tính mức giá có thể bán ra các cổ phiếu đó. Hay giả sử rằng tập đoàn Establishment Industries đề nghị bán lại bộ phận sản xuất khớp nối cho một công ty khác. Họ cần phải tính toán giá trị của bộ phận sản xuất này. Còn có một lý do khác, sâu sắc hơn: tại sao các nhà quản lý cần phải hiểu rõ cách định giá cổ phiếu? Chúng ta đã nói rằng nếu một công ty hoạt động vì lợi ích của cổ đông thì công ty nên chấp nhận những dự án đầu tư làm gia tăng giá trị sở hữu của các cổ đông. Nhưng để làm được điều này, thì cần phải hiểu rõ cái gì quyết định giá trị của cổ phiếu. Chúng ta mở đầu chương này với phần xem xét ngắn gọn về phương cách mua bán cổ phiếu. Tiếp đến chúng ta sẽ tìm hiểu những nguyên tắc cơ bản của việc định giá cổ phiếu. Chúng ta sẽ xem xét sự khác biệt cơ bản giữa cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu thu nhập, ý nghĩa của lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) và hệ số giá/lợi nhuận (PE). Cuối cùng, chúng ta sẽ đề cập đến một số vấn đề đặc biệt mà nhà quản lý và nhà đầu tư thường gặp khi tính toán giá trị hiện tại của toàn bộ doanh nghiệp. Một lời cảnh báo trước khi chúng ta bắt đầu. Ai cũng biết rằng cổ phiếu mang tính rủi ro và một số cổ phiếu có mức rủi ro cao hơn các cổ phiếu khác. Vì thế, nhà đầu tư sẽ không bỏ vốn đầu tư vào cổ phiếu trừ khi suất sinh lợi kỳ vọng là tương ứng với rủi ro. Các công thức tính giá trị hiện tại đã thảo luận trước đây có thể tính đến các tác động của rủi ro đối với giá trị, nhưng chúng tôi lại chưa cho bạn biết một cách cụ thể. Do đó, hãy tạm chấp nhận rằng rủi ro được đưa vào phần thảo luận sau đây một cách trực giác và lỏng lẻo. Chương 7 sẽ giải quyết vấn đề rủi ro một cách cẩn thận hơn. Richard A. Brealey, Stewart C. Myers 1 Biên dịch: Nguyên Vũ Hiệu đính: Đình Khôi
第 2 页
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty – 6th ed. Bài đọc Ch. 4: Định giá cổ phiếu thường 4.1 CỔ PHIẾU ĐƢỢC MUA BÁN NHƢ THẾ NÀO? Công ty General Electric (GE) có 3,3 tỷ cổ phần, và tại lần kiểm đếm vừa qua những cổ phần này do 500,000 cổ đông sở hữu. Cổ đông gồm có các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm lớn, mỗi đơn vị sở hữu vài triệu cổ phần, cũng như các cá nhân mỗi người chỉ sở hữu một ít cổ phần. Nếu bạn sở hữu một cổ phiếu GE, thì có nghĩa là bạn sở hữu 0,00000003 phần trăm công ty và có quyền được hưởng lợi nhuận với cùng tỷ lệ bé nhỏ đó. Đương nhiên, nếu bạn sở hữu càng nhiều cổ phần thì ―phần‖ sở hữu của bạn đối với công ty càng lớn. Nếu GE muốn huy động thêm vốn, nó có thể hoặc bằng cách vay vốn hoặc bằng cách bán cổ phần mới cho các nhà đầu tư. Việc phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn thường diễn ra trên thị trường sơ cấp. Nhưng hầu hết việc mua bán cổ phiếu GE lại diễn ra với những cổ phiếu hiện hữu đang được các nhà đầu tư mua bán qua lại với nhau, và vì thế không huy động thêm vốn mới cho công ty. Thị trường dành cho cổ phiếu đã được phát hành là thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp chính của cổ phiếu GE là Sở Giao Dịch Chứng khoán New York (NYSE).1 Đây là thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới và lượng mua bán trong một ngày giao dịch trung bình là 500 triệu cổ phiếu của khoảng chừng 2.900 công ty. Giả sử bạn đảm trách việc mua bán cổ phiếu của một quỹ hưu trí và muốn mua 100.000 cổ phần của GE. Bạn liên lạc với người môi giới chứng khoán, tiếp đến người này chuyển lệnh mua lên sàn giao dịch của NYSE. Việc mua bán mỗi loại cổ phiếu thuộc trách nhiệm của một chuyên viên (specialist), người này lưu giữ các lệnh bán và lệnh mua. Khi lệnh mua của bạn đến sàn, chuyên viên sẽ kiểm tra sổ lệnh để xem có người đầu tư nào sẵn sàng bán ở mức giá của bạn. Mặt khác, chuyên viên còn có thể tìm cho bạn một mức giá tốt hơn từ những người môi giới chứng khoán hoạt động quanh sàn hoặc có thể bán cho bạn một số cổ phiếu của riêng mình. Nếu chẳng có ai sẵn lòng bán với mức giá của bạn, chuyên viên sẽ lưu lại lệnh của bạn và khớp lệnh cho nó càng sớm càng tốt. NYSE không phải là thị trường chứng khoán duy nhất ở Hoa Kỳ. Ví dụ, nhiều loại cổ phiếu được mua bán gián tiếp thông qua mạng lưới của những người kinh doanh chứng khoán; những người này niêm yết giá mà họ sẵn sàng mua/bán trên một hệ thống điện toán có tên là NASDAQ (Hệ thống Chào giá Tự động của Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán). Nếu bạn thích mức giá mà bạn nhìn thấy trên màn hình NASDAQ, bạn chỉ cần gọi cho người kinh doanh đó và thỏa thuận giá cả. Giá giao dịch của các cổ phiếu được tóm lược trên các nhật báo. Ví dụ, dưới đây là cách The Wall Street Journal tóm lược giao dịch trong ngày của cổ phiếu GE vào ngày 18-12-1998: 52 tuần Stock Div Yld PE Vol Hi Lo Close Net High Low % 100s Chg. 96 69 General 1,20 1,2 36 87707 97 94 96 +2 7/8 Electric 1/8 7/8 9/16 Bạn có thể thấy rằng vào ngày này những người đầu tư đã mua bán tổng cộng 87.707x100 = 8.770.700 cổ phần của GE (Vol 100s). Cổ phiếu này đạt giá cao nhất trong ngày là 1 Cổ phiếu GE còn được mua bán trên một số sở giao dịch chứng khoán ở nước ngoài. Richard A. Brealey, Stewart C. Myers 2 Biên dịch: Nguyên Vũ Hiệu đính: Đình Khôi
第 3 页
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Nguyên lý tài chính công ty – 6th ed. Bài đọc Ch. 4: Định giá cổ phiếu thường 97 USD (Hi) và thấp nhất trong ngày là 94 1/8 USD (Lo). Vào lúc thị trường đóng cửa cổ phiếu này có giá 96 7/8 USD một cổ phần (Close), tăng 2 9/16 so với ngày giao dịch trước (Net Chg.). GE có 3,3 tỷ cổ phần đang lưu hành, nên những người đầu tư đã xem công ty có giá trị là 320 tỷ USD. Đầu tư cổ phiếu là một nghề nhiều rủi ro. Cổ phiếu GE có giá 73 USD vào đầu năm 1998, tăng lên 96 USD vào tháng 7, giảm xuống 72 USD vào tháng 10, và tăng trở lại 96 USD vào tháng 12. Một người không may mắn đã mua vào tháng 7 và bán vào tháng 10 có thể đã lỗ mất hơn một phần tư vốn đầu tư. Đương nhiên, bạn sẽ không ―đụng phải‖ những người như thế tại các tiệc tiếp tân; vì hoặc là họ ngậm miệng im lặng hoặc là không được mời. The Wall Street Journal còn cung cấp ba dữ kiện khác về cổ phiếu GE. GE trả cổ tức mỗi năm 1,2 USD cho một cổ phần (Div), suất sinh lợi là 1,2 phần trăm (Yld %), và tỉ số giá cổ phần chia cho lợi nhuận (P/E ratio) là 36. Chúng tôi sẽ giải thích tại sao những người đầu tư lại chú ý đến các con số này. 4.2 CỔ PHIẾU ĐƢỢC ĐỊNH GIÁ NHƢ THẾ NÀO? Nhớ lại ở chương trước chúng tôi đã trình bày cách định giá dòng ngân lưu tương lai. Công thức chiết khấu ngân lưu (DCF) để tính giá trị hiện tại của một cổ phiếu thì cũng giống như trường hợp tính giá trị hiện tại của bất kỳ tài sản nào khác. Chúng ta chỉ cần chiết khấu dòng ngân lưu bằng suất sinh lợi có thể thu được trên thị trường vốn từ những chứng khoán có mức rủi ro tương tự. Cổ đông nhận tiền từ công ty dưới dạng một dòng cổ tức. Do đó: PV(cổ phiếu) = PV(cổ tức kỳ vọng tương lai) Thoạt tiên phát biểu này có thể gây ngạc nhiên. Khi người đầu tư mua cổ phiếu, họ thường kỳ vọng nhận được cổ tức, nhưng họ còn hy vọng thu lãi vốn. Thế tại sao công thức tính giá trị hiện của chúng tôi chẳng đề cập gì đến khoản lãi vốn? Bây giờ chúng tôi sẽ giải thích, và bạn sẽ thấy rằng mọi cái đều nhất quán. Giá của ngày hôm nay Tiền mà chủ sở hữu ―cổ phiếu thường‖ kiếm được có hai dạng: (1) cổ tức và (2) lãi hay lỗ vốn. Giả sử rằng giá hiện hành của một cổ phiếu là P0, giá kỳ vọng vào cuối một năm là P1, và cổ tức kỳ vọng trên mỗi cổ phiếu là DIV1. Suất sinh lợi mà người đầu tư kỳ vọng từ cổ phiếu này trong năm tiếp theo được định nghĩa là cổ tức kỳ vọng trên cổ phiếu DIV1 cộng với mức tăng giá kỳ vọng của mỗi cổ phiếu (P1 – P0), tất cả chia cho giá vào đầu năm P0: Suất sinh lợi kỳ vọng = r = DIV1+ P1 – P0 P0 Suất sinh lợi kỳ vọng này của người đầu tư thường được gọi là suất huy động vốn của thị trường. Giả sử cổ phiếu Fledgling Electrics đang bán với giá $100 mỗi cổ phần (P0 = 100). Người đầu tư kỳ vọng sẽ nhận được $5 cổ tức trong năm tới (DIV1 = 5). Họ còn kỳ vọng rằng cổ phiếu đó sẽ bán được $110 sau một năm (P1 = 110). Như thế suất sinh lợi kỳ vọng của cổ đông là 15 phần trăm: Richard A. Brealey, Stewart C. Myers 3 Biên dịch: Nguyên Vũ Hiệu đính: Đình Khôi
评论 (0)
暂无评论。快来抢沙发吧!