Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Một văn kiện mang tính cương lĩnh, có giá trị lịch sử và sức sống

THThiNganHang
2 lượt tải
9
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” – MỘT VĂN KIỆN MANG TÍNH CƯƠNG LĨNH, CÓ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ SỨC SỐNG THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC ĐẶNG HỮU TOÀN (*) Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại 160 năm qua, kể từ lần xuất bản đầu tiên đến nay, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã được thừa nhận không chỉ là tác phẩm lý luận bất hủ, một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen, nó còn là một văn kiện mang tính cương lĩnh, có giá trị lịch sử và tràn đầy sức sống thực tiễn của chủ nghĩa Mác. Phân tích và luận giải những tư tưởng cơ bản, những nguyên lý nền tảng mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra, trong bài viết này, một lần nữa, tác giả khẳng định ý nghĩa đó của “Tuyên ngôn”. Và, bằng những thực tiễn sinh động trong phong trào cách mạng thế giới 160 năm qua, nhất là trong những thập niên gần đây, tác giả đã khẳng định, ánh sáng và tinh thần của những tư tưởng cơ bản, những nguyên lý nền tảng trong “Tuyên ngôn” vẫn sống mãi với thời gian. Đúng vào ngày này, cách đây 160 năm, ngày 24 tháng 2 năm 1848, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – một văn kiện mang tính cương lĩnh, có giá trị lịch sử và tràn đầy sức sống thực tiễn của chủ nghĩa Mác, một tác phẩm lý luận bất hủ do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo theo sự ủy nhiệm của Liên đoàn những người cộng sản – một tổ chức công nhân quốc tế - đã, lần đầu tiên, được xuất bản tại Luân Đôn (thủ đô nước Anh). Trong suốt chiều dài lịch sử hơn một thế kỷ rưỡi, Tuyên ngôn vẫn luôn tồn tại với tư cách một tác phẩm lý luận đỉnh cao, có vị trí đặc biệt quan trọng, vị trí mà không một tác phẩm nào, kể cả bộ Tư bản, có thể thay thế được, trong sự nghiệp sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Không chỉ thế, trong suốt chiều dài lịch sử đó, Tuyên ngôn vẫn luôn tồn tại không chỉ với tư cách “khúc ca tuyệt tác của chủ nghĩa Mác”, mà còn với tư cách cương lĩnh “có đầy đủ chi tiết, vừa về mặt lý luận, vừa về mặt thực tiễn”(1) của giai cấp vô sản, giai cấp công nhân toàn thế giới và chính đảng cách mạng của nó. Bởi lẽ, sự ra đời của Tuyên ngôn không chỉ “đánh dấu một bước tiến trong khoa học lịch sử” và mở ra một giai đoạn mới về chất trong lịch sử hình thành và phát triển tri thức của nhân loại, mà còn “giống như học thuyết của Đácuyn trong sinh vật học, nó đã tạo ra một bước ngoặt trong tiến trình phát triển tư tưởng của nhân loại về sự cải biến xã hội bằng cách mạng. Hơn nữa, Tuyên ngôn không chỉ là “tác phẩm phổ biến hơn cả, có tính chất quốc tế hơn cả trong tất cả các văn phẩm xã hội chủ nghĩa”, mà còn đã thực sự trở thành “cương lĩnh được thừa nhận bởi hàng triệu công nhân từ Xibia đến Caliphoócnia”(2), thành cơ sở lý luận khoa học, ngọn cờ tư tưởng, ngôi sao dẫn đường và kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong suốt chiều dài hơn một thế kỷ rưỡi vừa qua, lịch sử nhân loại đã diễn ra với biết bao biến đổi thăng trầm, song Tuyên ngôn vẫn luôn tồn tại với tư cách văn kiện mang tính cương lĩnh, có giá trị lịch sử và tràn đầy sức sống thực tiễn đó. Do vậy, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng chắc chắn rằng, Tuyên ngôn sẽ còn tồn tại mãi với thời gian trong lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại nói chung, trong lịch sử phát triển lý luận Mác – Lênin nói riêng. Cái làm nên ý nghĩa, giá trị và sức sống đó của Tuyên ngôn, trước hết là ở bản chất cách mạng và nội dung khoa học sâu sắc của nó. Trong Tuyên ngôn, những “luận điểm chủ yếu”, “tư tưởng cơ bản và chủ đạo”, nền tảng vững chắc của chủ nghĩa Mác là chủ

Trang 2

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử – quan niệm duy vật về lịch sử, lần đầu tiên đã được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày dưới dạng hoàn chỉnh, cô đọng, súc tích và có hệ thống. Đúng như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ trong Lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883 tác phẩm bất hủ này: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của “Tuyên ngôn” là: trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy; do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy tan rã), toàn bộ lịch sử là lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bị bóc lột và những giai cấp đi bóc lột, giữa những giai cấp bị trị và những giai cấp thống trị, qua các giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ; nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột và bị áp bức (tức là giai cấp vô sản) không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức là giai cấp tư sản) được nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức và khỏi cuộc đấu tranh giai cấp”(3). Với “tư tưởng cơ bản và chủ đạo” này – quan niệm duy vật về lịch sử, trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải một cách khoa học về quy luật phát triển khách quan của lịch sử nhân loại, lịch sử xã hội loài người; về vị trí hàng đầu, ý nghĩa có tầm quan trọng bậc nhất và vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự phát triển của xã hội nói chung, đối với sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng nói riêng; về quá trình phát sinh, phát triển và sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như sự ra đời và phát triển như một tất yếu khách quan của chủ nghĩa xã hội; về vị trí, vai trò, sứ mệnh lịch sử và phương pháp đấu tranh của giai cấp vô sản trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới; v.v.. Nói cách khác, trong Tuyên ngôn, với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra và luận chứng một cách có cơ sở lý luận, có luận cứ khoa học sâu sắc về những nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Không chỉ thế, với phương pháp khoa học này, trong Tuyên ngôn, các ông còn đề xuất hàng loạt luận điểm mang tính chất xuất phát điểm cho học thuyết kinh tế của mình. Khi khẳng định toàn bộ nội dung của Tuyên ngôn đã nói lên mối liên hệ khăng khít, sự thống nhất hữu cơ giữa ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lênin đã đặc biệt nhấn mạnh rằng, Tuyên ngôn là tác phẩm mà ở đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã “trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xã hội, - phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng – trong lịch sử toàn thế giới – của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới, xã hội cộng sản”(4). Thật vậy, trong phần mở đầu, khi nói về bối cảnh ra đời của văn kiện lịch sử này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ nỗi sợ hãi và sự căm thù của các thế lực trong thế giới tư bản chủ nghĩa đối với phong trào cộng sản đang hình thành và ngày một phát triển sâu rộng. Các ông đã khẳng định rằng, sự xuất hiện và ngày càng phát triển của chủ nghĩa cộng sản mà khi đó, “tất cả các thế lực ở châu Âu thừa nhận là một thế lực”, “một bóng ma đang ám ảnh châu Âu”, đã khiến cho chúng phải “liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử”. Chính vì vậy, “hiện nay, - các ông nhấn mạnh, - đã đến lúc những người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình; và phải có một Tuyên ngôn của đảng của mình để đập lại câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản”(5).

Trang 3

Trong bối cảnh đó, để giúp cho giai cấp vô sản toàn thế giới và các chính đảng của nó nhận thức rõ vị trí, vai trò, sứ mệnh lịch sử và mục đích cao cả của mình trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, đồng thời thiết lập địa vị thống trị của mình và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phác họa nên một bức tranh sinh động về quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, bóc trần những mâu thuẫn nội tại, vốn có của nó, chỉ rõ mức độ đối kháng giai cấp ngày càng sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cho đến nay, dẫu lịch sử nhân loại đã trải qua cả một quãng thời gian dài đến 160 năm với biết bao sự thay đổi thăng trầm và dẫu hiện thời, “chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường”, song những mâu thuẫn vốn có ấy của nó, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch rõ trong Tuyên ngôn, không những không mất đi mà thậm chí, “vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn” đến mức độ “không thể khắc phục nổi”, “đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất”(6). Không chỉ vạch rõ những mâu thuẫn nội tại, vốn có của chủ nghĩa tư bản, với cái nhìn khách quan và tầm hiểu biết sâu sắc, trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen còn thẳng thắn thừa nhận rằng, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và việc giai cấp tư sản thiết lập được địa vị thống trị của mình đã dẫn đến một sự phát triển chung chưa từng thấy của các lực lượng sản xuất, một sự tiến bộ về kinh tế, phát triển về khoa học, kỹ thuật và văn hóa. Các ông khẳng định: “Giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”; ở bất cứ nơi nào mà giai cấp tư sản thiết lập được quyền thống trị chính trị của mình, thì nó đều “đạp đổ những quan hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên”, làm tiêu tan “tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan hệ ấy”. Nó “làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”, những thành quả hoạt động tinh thần của một dân tộc thì “trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc” và “lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh”. Rằng, giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”(7). Đánh giá cao những thành tựu và cống hiến ấy của chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, song với cái nhìn biện chứng khách quan và tầm nhận thức sâu sắc về tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã khẳng định rằng, giờ đây, giống như những gì đã xảy ra với các phương thức sản xuất trước kia, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã không còn phù hợp với lực lượng sản xuất hùng mạnh do nó tạo ra nữa, nó bắt đầu kìm hãm sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất này. Rằng, “xã hội tư sản hiện đại, với những quan hệ sản xuất và trao đổi tư sản của nó, với những quan hệ sở hữu tư sản, đã tạo ra những tư liệu sản xuất và trao đổi hết sức mạnh mẽ như thế, thì giờ đây, giống như một tay phù thủy không còn đủ sức trị những âm binh mà y đã triệu lên”(8). Và, giai cấp tư sản, từ một giai cấp tiến bộ, cách mạng khi còn đang đấu tranh chống lại chế độ phong kiến, đã trở thành một giai cấp phản động, một trở ngại trên con đường tiến bộ xã hội, trở thành lực cản cản trở tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Với những khẳng định đó, trong một văn kiện mang tính cương lĩnh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho thấy, việc thủ tiêu chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và cùng với nó là xóa bỏ toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa đã được chuẩn bị một cách khách quan

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!