Trang 1
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang THÂM HỤT NGÂN SÁCH, THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NỢ CÔNG - BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ VĨ MÔ *** Những bất ổn về kinh tế - chính trị trên thế giới đang diễn tiến ngày càng phức tạp đã tác động trực tiếp đến tình hình thu ngân sách của nhiều quốc gia. Đó chính là những vấn đề như thâm hụt ngân sách, nợ công. Vấn đề này đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới và trở thành những mối lo ngại lớn của nền kinh tế các nước. PHẦN NỘI DUNG: I. Cơ sở lí thuyết. 1. Thâm hụt ngân sách. a. Khái niệm. Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. b. Phân loại thâm hụt. Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ. Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,... Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. 2. Nợ công a. Khái niệm. Nợ chính phủ, nợ công hoặc nợ quốc gia là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
Trang 2
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang b. Phân loại. Có 2 cách phân loại nợ công như sau: - Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước). - Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm). II. Cơ sở thực tiễn. 1. Tìm hiểu thâm hụt ngân sách và tình trạng nợ công của Việt Nam. 1.1. Thực trạng. Con số thâm hụt ngân sách của Việt Nam thuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực, khoảng 6% GDP/năm. Báo cáo báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 "Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu" do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa công bố chỉ ra rằng, thâm hụt ngân sách và nợ công của Việt Nam tăng nhanh trong thời gian qua. Báo cáo chỉ ra rằng, thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập kỉ qua và có mức độ ngày càng gia tăng. Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai đoạn 2003 - 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008 - 2012. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP) năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Thâm hụt gồm chi trả nợ gốc -4.9 -4.9 -4.9 -5.0 -5.7 -4.6 -6.9 -5.6 -4.9 -4.8 Thâm hụt không gồm chi trả nợ gốc -1.8 -1.1 -0.9 -09 -1.8 -1.8 -3.7 -2.8 -2.1 -3.1 Đặc biệt những năm gần đây, thâm hụt ngân sách liên tục đã kéo theo sự gia tăng nhanh của nợ công. Tổng nợ công của Việt Nam đã tăng từ khoảng 40% GDP từ cuối năm 2007 lên tới 57% GDP vào cuối năm 2010 và chỉ giảm đôi chút vào năm 2011. Cùng thời gian đó, nợ nước ngoài của Việt Nam cũng tăng từ 32% lên tới gần 42% GDP. - Ta cũng có biểu đồ thể hiện rõ nét nợ công của Việt Nam ở dưới đây: Đơn vị: nghìn tỉ đồng Gánh nặng trả nợ trong 10 năm qua ở Việt Nam. Nguồn:bộ tài chính. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
Trang 3
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang 1.2. Nguyên nhân dẫn tới thâm hụt ngân sách và nợ công ở Việt Nam. - Nguyên nhân khách quan: Do nền kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang bị khủng hoảng, Số liệu của cơ quan thuế các địa phương cho thấy, hiện chỉ có 21,3% số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh là có kê khai thuế giá trị gia tăng dẫn đến tình trạng “hụt thu” ngân sách. Ngoài ra, còn một loạt các khoản thu không đảm bảo tiến độ, trong đó, thu từ khu vực DNNN chỉ đạt 60,6% dự toán, thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 69,5% dự toán và thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt trên 64% dự toán. - Nguyên nhân chủ quan: Do nhà nước chi tiêu, đầu tư không hiệu quả, Chỉ riêng trong 9 tháng đầu năm 2013, tổng số tiền nhà nước thu được là 461.000 tỷ đồng nhưng số tiền chi ra lên đến 563.000 tỷ đồng mà vẫn chưa mang lại tín hiệu khả quan nào cho tình hình phát triển kinh tế, ngược lại số lượng các doanh nghiệp “chết” ngày càng gia tăng. Ngoài ra còn một loạt các nguyên nhân khác như : thất thu thuế của nhà nước, nhà nước huy động vốn để kích cầu, chưa chú trọng chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên và quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn. 2. Tìm hiểu thâm hụt ngân sách và nợ công của Nhật Bản. 2.1. Thực trạng thâm hụt ngân sách. Từ thập kỷ 1990, tài chính công của Nhật Bản ngày càng đi xuống và Nhật Bản trở thành một trong những quốc gia có vấn đề tài chính đáng lo ngại nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Tuy là nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới nhưng Nhật Bản lại là nước có mức nợ công cao nhất trong số các nước phát triển, lên tới 10.000 tỷ USD, gấp đôi GDP (5.000 tỷ USD). Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng nợ công của Chính phủ Nhật Bản hiện đã lên đến 229% GDP (7/2011). Đặc biệt, tháng 11/2013, theo bộ trưởng bộ tào chính của Nhật Bản công bố, nước này có mức thâm hụt ngân sách kỉ lục là 1,29 nghìn tỉ yên, tương đương với 12,6 tỉ đô la Mỹ. Khoảng thời gian thâm hụt ngân sách 17 tháng này là mức thâm hụt ngân sách kéo dài nhất tính từ năm 1979 tới nay. 2.2. Nguyên nhân thâm hụt ngân sách của Nhật Bản. Những lý do dẫn đến việc thâm hụt ngân sách của Nhật Bản có thể kể đến như: - Suy thoái kéo dài và sự suy giảm của nguồn thu từ thuế. - Chính phủ thực thi hàng loạt chính sách giảm thuế vào cuối thập niên 90. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!