Phân tích hồi quy bội: Vấn đề về ước lượng - Full Bright

THThiNganHang
0 lượt tải
43
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Các phương pháp định lượng Kinh tế lƣợng cơ sở - 3rd ed. Niên khóa 2011-2013 Bài đọc Ch 7: Phân tích hồi quy bội: Vấn đề về ước lượng CHCHƯƠƯƠNGNG 77 PHPHÂÂNN TTÍÍCCHH HHỒỒI QI QUUYY BBỘỘI:I: VVẤẤNN ĐĐỀỀ VVỀỀ ƯƯỚỚC LC LƯƯỢỢNGNG Mô hình hai biến mà chúng ta đã nghiên cứu chi tiết trong những chương trước trên thực tế thường là không thỏa đáng. Chẳng hạn như, trong ví dụ của chúng ta về thu nhập-chi tiêu, chúng ta giả định ngầm rằng chỉ có thu nhập X ảnh hưởng đến chi tiêu Y. Nhưng lý thuyết kinh tế ít khi được đơn giản như vậy, bởi vì ngoài chi tiêu ra, một số những biến khác cũng có thể có ảnh hưởng đến chi tiêu tiêu dùng. Đơn cử một ví dụ dễ thấy là sự giàu có của người tiêu thụ. Một ví dụ khác, nhu cầu về một mặt hàng thường không chỉ phụ thuộc vào giá của nó mà thôi, mà còn phụ thuộc vào giá cả của những hàng hóa cạnh tranh hay bổ trợ khác, phụ thuộc vào thu nhập của người tiêu dùng, địa vị xã hội, v.v. Vì vậy, chúng ta cần phải mở rộng mô hình hồi quy hai biến đơn giản của chúng ta để xem xét đến những mô hình gồm có nhiều hơn hai biến. Việc đưa thêm nhiều biến vào dẫn tới việc thảo luận các mô hình hồi quy bội, tức những mô hình trong đó biến phụ thuộc, hay biến hồi quy phụ thuộc độc lập, Y phụ thuộc vào hai hay nhiều biến giải thích, hay biến hồi quy độc lập trở lên. Mô hình hồi quy bội đơn giản nhất có thể có là hồi quy ba biến, với một biến độc lập và hai biến giải thích. Trong chương này và chương tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu mô hình này, và trong Chương 9 chúng ta sẽ khái quát hóa để áp dụng nó vào những trường hợp nhiều hơn ba biến. Xuyên suốt tập sách, chúng ta quan tâm đến mô hình hồi quy tuyến tính bội, có nghĩa là, những mô hình tuyến tính theo thông số; chúng có thể là hoặc có thể không phải là tuyến tính theo các biến số. 7.1 MÔ HÌNH BA BIẾN: KÝ HIỆU VÀ CÁC GIẢ ĐỊNH Khái quát hóa hàm hồi quy tổng thể (PFR) hai biến (2.4.2), chúng ta có thể viết PRF ba biến như sau: Yi = 1 + 2X2i + 3X3i + ui (7.1.1) trong đó Y là biến phụ thuộc, X2 và X3 là các biến giải thích (hay biến hồi quy độc lập), u là số hạng nhiễu ngẫu nhiên, và i là quan sát thứ i; trong trường hợp dữ liệu là chuỗi thời gian, chỉ số dưới t sẽ biểu thị quan sát thứ t.1 Trong Phương trình (7.1.1) 1 là số hạng tung độ gốc. Như thường lệ, nó cho biết ảnh hưởng trung bình của tất cả các biến bị loại ra khỏi mô hình đối với Y, mặc dù giải thích nó một cách máy móc là giá trị trung bình của Y khi X2 và X3 được lấy bằng zero. Hệ số 2 và 3 được gọi là hệ số hồi quy riêng phần, và ý nghĩa của nó sẽ được giải thích ở tiếp dươí. Chúng ta tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển (CRLM) được giới thiệu trong Chương 3. Đặc biệt, chúng ta giả định như sau: Giá trị trung bình của ui là 0 hay 1 Để cho cân xứng về mặt ký hiệu, Pt. (7.1.1) cũng có thể được viết thành Yi = 1X1i + 2X2i + 3X3i + ui với điều kiện là X1i = 1 đối với mọi i. Damodar N. Gujarati 1 Biên dịch: Thạch Quân Hiệu đính: Cao Hào Thi

Trang 2

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Các phương pháp định lượng Kinh tế lƣợng cơ sở - 3rd ed. Bài đọc Ch 7: Phân tích hồi quy bội: Vấn đề về ước lượng E(ui X2i, X3i)= 0 cho mỗi i (7.1.2) Không có tương quan chuỗi, hay cov(ui, uj) = 0 i  j (7.1.3) Phương sai có điều kiện không đổi, hay var(u ) = 2 (7.1.4) i Tích sai giữa ui và mỗi biến X có giá trị bằng 0 hay cov(u , X ) = cov(u , X ) = 0 (7.1.5)2 i 2j i 3j Không có thiên lệch đặc trưng, hay Mô hình được xác định đúng (7.1.6) Không có cộng tuyến rõ ràng giữa các biến X, hay Không có quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa X2 và X3 (7.1.7) Thêm vào đó, cũng như ở Chương 3, chúng ta giả định rằng mô hình hồi quy bội là tuyến tính theo các thông số, rằng các giá trị của biến hồi quy độc lập là được giữ cố định trong những lần lấy mẫu liên tiếp, và rằng có đủ sự biến đổi về các giá trị của các biến hồi quy độc lập. Cơ sở cho những giả định từ (7.1.2) cho đến (7.1.6) cũng tương tự như ta đã thảo luận trong Phần 3.2. Giả định (7.1.7), rằng không có quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa X2 và X3, được gọi là giả định về sự phi cộng tuyến, hay phi đa cộng tuyến nếu có nhiều hơn một quan hệ tuyến tính rõ ràng có liên quan, là giả định mới và cần phải được giải thích.3 Nói một cách đơn giản, phi cộng tuyến có nghĩa là không có biến giải thích nào có thể được biểu thị dưới dạng tổ hợp tuyến tính với những biến giải thích còn lại. Ý nghĩa của điều này có thể thấy được từ biểu đồ Venn, hay Ballentine, đã được giới thiệu trong Chương 3. Trong hình này, vòng tròn Y tượng trưng cho sự biến đổi của biến phụ thuộc Y và các vòng tròn X2 và X3 lần lượt biểu thị cho sự biến đổi của biến hồi quy độc lập X2 và X3. Trong hình 7.1a vùng 1 biểu thị sự biến đổi của Y do X2 giải thích (thông qua một hồi quy OLS) và vùng 2 biểu thị sự biến đổi của Y do X3 giải thích. Trong hình 7.1b, vùng 3 và 4 biểu thị sự biến đổi của Y do X2 giải thích và vùng 4 và 5 biểu thị sự của Y do X3 giải thích. Nhưng bởi vì vùng 4 là vùng chung cho cả X2 và X3, một tiên nghiệm mà chúng ta không biết phần nào trong 4 thuộc về X2 và phần nào thuộc về X3. Vùng chung 4 tượng trưng cho trạng thái cộng tuyến. Giả định về tính không cộng tuyến đòi hỏi rằng không được có một sự trùng lặp nào giữa X2 và X3, có nghĩa là vùng chung 4 phải bằng không. Nói một cách một cách khác, điều kiện chúng ta cần là tương tự như tình huống được mô tả trong hình 7.1a. 2 Giả định này tự động được thực hiện nếu X và X là không ngẫu nhiên và (7.1.2) là đúng. 2 3 3 Trong mô hình hai biến chúng ta không cần giả định này. Tại sao? Damodar N. Gujarati 2 Biên dịch: Thạch Quân Hiệu đính: Cao Hào Thi

Trang 3

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Các phương pháp định lượng Kinh tế lƣợng cơ sở - 3rd ed. Bài đọc Ch 7: Phân tích hồi quy bội: Vấn đề về ước lượng HÌNH 7.1 Biểu đồ Ballentine, trình bày phi cộng tuyến (a) và cộng tuyến (b) Phát biểu bằng thuật ngữ chuyên môn, không cộng tuyến có nghĩa là không hề tồn tại một tập hợp các số 2 và 3, không phải cả hai đều bằng không, sao cho 2X2i + 3X3i = 0 (7.1.8) Nếu tồn tại một quan hệ tuyến tính như vậy, khi đó X2 và X3 được coi là cộng tuyến hay phụ thuộc tuyến tính. Mặt khác, nếu (7.1.8) chỉ đúng khi 2 = 3 = 0, thì X2 và X3 được coi là độc lập tuyến tính. Như vậy, nếu X2i = - 4X3i hay X2i + 4X3i = 0 (7.1.9) hai biến này là phụ thuộc tuyến tính, và nếu cả hai đều được đưa vào trong một mô hình hồi quy chúng ta sẽ có cộng tuyến hoàn hảo hay một quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa hai biến hồi quy độc lập. Nhưng giả sử X = X 2 . Điều này có vi phạm giả thiết không cộng tuyến hay không? 3i 2i Không, bởi vì quan hệ giữa hai biến ở đây là không tuyến tính và không hề phá vỡ yêu cầu là không được có quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa hai biến hồi quy độc lập. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng trong trường hợp này r2 và r được tính theo quy ước sẽ cao, đặc biệt trong các mẫu của X và 2 X3 có một ít các giá trị cực trị. Nhưng vấn đề này sẽ được nói tới nhiều hơn ở Chương 10. Mặc dù chúng ta sẽ xem xét vấn đề đa cộng tuyến một cách chi tiết ở Chương 10, về mặt trực giác tính lôgíc của giả thiết phi đa cộng tuyến không phải là quá khó để không hiểu được. Giả sử rằng trong (7.1.1) Y, X2, và X3 lần lượt biểu thị cho chi tiêu tiêu dùng, thu nhập và sự giàu có của người tiêu thụ. Khi quy định rằng chi tiêu tiêu dùng là có quan hệ tuyến tính với thu nhập và sự giàu có, lý thuyết kinh tế cho rằng sự giàu có và thu nhập có thể có một vài ảnh hưởng độc lập đối với tiêu dùng. Nếu không, không có lý do gì để đưa cả biến thu nhập và tiêu dùng vào trong mô hình. Trong trường hợp quá mức đặc biệt, nếu có quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa thu nhập và sự giàu có, chúng ta chỉ có một biến độc lập, chớ không phải hai, và không có cách nào để đánh giá được từng ảnh hưởng riêng của thu nhập và sự giàu có đối với tiêu dùng. Để thấy được điều này một cách rõ ràng, cho X3i = 2X trong hồi quy chi tiêu-thu nhập-sự giàu có. Khi đó hồi quy 2i (7.1.1) trở thành Damodar N. Gujarati 3 Biên dịch: Thạch Quân Hiệu đính: Cao Hào Thi

Trang 4

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Các phương pháp định lượng Kinh tế lƣợng cơ sở - 3rd ed. Bài đọc Ch 7: Phân tích hồi quy bội: Vấn đề về ước lượng Y     X   (2X ) u i 1 2 2i 3 2i i    (  2 )X  u 1 2 3 2i i (7.1.10)   X  u 1 2i i trong đó  = (2 + 23). Có nghĩa là, sự thật chúng ta có một hồi quy hai biến thay vì hồi quy ba biến. Hơn nữa, nếu chúng ta thực hiện hồi quy (7.1.10) và thu được , không có cách nào để ước lượng được các ảnh hưởng riêng biệt của X2 (=2) và X3 (=3) đối với Y, bởi vì  cho ta ảnh hưởng kết hợp của cả X và X trên Y.4 2 3 Tóm lại, giả định phi đa cộng tuyến đòi hỏi rằng trong hàm hồi quy tổng thể (PRF) chúng ta đưa vào chỉ những biến nào không phải là hàm tuyến tính của một số trong những biến trong mô hình. Liệu có thể luôn luôn đạt được điều này trên thực tế không lại là một vấn đề khác và chúng ta sẽ xem xét đến nó một cách bao quát trong Chương 10. 7.2 GIẢI THÍCH PHƢƠNG TRÌNH HỒI QUI BỘI Với những giả định về mô hình hồi quy bội cổ điển, chúng ta suy ra, khi lấy kỳ vọng có điều kiện của Y ở cả hai vế của (7.1.1) chúng ta có E(Yi X2i, X3i)= 1 + 2X2i + 3X3i (7.2.1) Diễn tả bằng ngôn ngữ, (7.2.1) cho biết trung bình có điều kiện hay giá trị kỳ vọng của Y với điều kiện là đã biết các giá trị cố định hay đã cho của các biến X2 và X3. Do đó, cũng tương tự như trong mô hình hai biến, phân tích hồi quy bội là phân tích hồi quy với điều kiện đã biết các giá trị cố định của các biến giải thích,và chúng ta thu được giá trị trung bình của Y hay trung bình tương ứng của Y đối với các giá trị cố định của các biến X. 7.3 Ý NGHĨA CỦA CÁC HỆ SỐ HỒI QUI RIÊNG PHẦN Ý nghĩa của hệ số hồi quy riêng phần là như sau: 2 đo lường sự thay đổi trong giá trị trung bình Y, E(Y X2, X3) khi X2 thay đổi một đơn vị, giữ X3 không đổi. Nói một cách khác, nó cho biết độ dốc của E(Y X , X ) so với X , giữ X không đổi.5 Nói một cách khác, nó cho biết ảnh hưởng "trực 2 3 2 3 tiếp" hay "ròng" của các thay đổi một đơn vị trong X2 đối với giá trị trung bình của Y, loại trừ ảnh hưởng của X3. Tương tự, 3 đo lường thay đổi trong giá trị trung bình của Y khi X3 thay đổi một đơn vị, giữ X2 không đổi. Có nghĩa là, nó cho biết ảnh hưởng "trực tiếp" hay "ròng" của thay đổi một đơn vị trong X3 đối với giá trị trung bình của Y, loại trừ ảnh hưởng của X2. Ý nghĩa chính xác của thuật ngữ giữ không đổi là gì?6 Để hiểu được điều này, giả sử Y tượng trưng cho sản lượng và X2 và X3 tượng trưng cho lao động và vốn ở đầu vào. Giả sử thêm là cả X2 và X3 đều cần thiết đối với việc sản xuất Y và tỉ lệ chúng được sử dụng để sản xuất Y là có thể thay đổi. Bây giờ, giả sử chúng ta tăng lao động ở đầu vào thêm một đơn vị, kết quả thu được là sản lượng gia tăng (tổng sản phẩm biên tế của lao động). Chúng ta có thể quy sự thay đổi sản lượng này chỉ là kết quả của lao động X ở đầu vào mà thôi được không?7 Nếu chúng ta làm như 2 4Về mặt toán học,  = ( + 2 ) là một phương trình gồm có hai đại lượng chưa biết và không có cách độc nhất nào 2 3 có thể ước tính được 2 và 3 từ  đã được ước lượng. 5 Những bạn đọc có đầu óc về toán sẽ nhận thấy ngay là  và  là các đạo hàm riêng phần của E(Y X , X ) tương 2 3 2 3 ứng với X2 và X3. 6 Các thuật ngữ kiểm soát, giữ không đổi, lưu ý đến hay tính đến ảnh hưởng của, và hiệu chỉnh lại ảnh hưởng của tát cả đều đồng nghĩa với nhau và sẽ được dùng thay thế lẫn nhau trong tài liệu này. 7 Bởi vì trong sản xuất phải cần đến cả lao động và vốn, sự gia tăng này có thể dẫn đến sự gia tăng của vốn; lượng thay đổi của vốn sẽ phụ thuộc vào công nghệ sản xuất. Damodar N. Gujarati 4 Biên dịch: Thạch Quân Hiệu đính: Cao Hào Thi

Hiển thị 4 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!