Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc ban hành Luật thuế sử dụng đất - Bài tập học kì Luật tài chính

THThiNganHang
0 lượt tải
8
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT - BÀI TẬP HỌC KÌ LUẬT TÀI CHÍNH *** Trong những năm qua thị trường bất động sản đã và đang hình thành, phát triển ở Việt Nam, góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, kích thích đầu tư, đáp ứng các yêu cầu về đất đai, nhà ở. Để quản lý và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển, Nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách trong đó chính sách thuế đóng một vai trò hết sức quan trọng. B. Thân bài I. Cơ sở lý luận: 1. Giới thiệu về thuế sử dụng đất: • Thuế sử dụng đất: Là loại thế thu ổn định hàng năm, thu trên tổng giá trị đất nhân với thuế suất. Người sở hữu đất (hoặc người được Nhà nước giao đất sử dụng ổn định, lâu dài) có trách nhiệm nộp thuế đất như một loại thuế đánh vào tài sản. Mục đích thu thuế sử dụng đất là tận dụng và thúc đẩy sử dụng đất có hiệu quả, ngăn ngừa lũng đoạn, đầu cơ đất đai. Thuế thu trên tổng giá trị đất, đất đai càng nhiều thì tổng giá trị đất càng cao, và nếu thuế suất lũy tiến thì thuế càng lớn. Chủ sử dụng đất mà sử dụng không hiệu quả thì phải chuyển nhượng cho người khác. Qua đó thúc đẩy việc chuyển dịch đất đai một cách hợp lý, ngăn ngừa đầu cơ đất đai, đồng thời điều tiết cung về đất đai. Hiện nay, thuế sử dụng đất bao gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp và pháp lệnh thuế nhà, đất. Tới ngày 01/01/2012 khi Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu lực thì thuế sử dụng đất sẽ bao gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. 2. Giới thiệu về thuế sử dụng đất nông nghiệp và pháp lệnh thuế nhà, đất : • Thuế sử dụng đất nông nghiệp (thuế SDĐNN): Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp được ban hành vào năm 1993 để thay thế cho Luật thuế nông nghiệp được ban hành từ năm 1951. Thuế nông nghiệp trước đây trên hoa lợi thu được với thuế suất tương đối cao đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người nông dân, không khuyến khích việc thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Thuế sử dụng đất nông nghiệp (đánh thuế đối với việc sử dụng đất) ra đời đáp ứng được các mục tiêu cơ bản như: khuyến khích sử dụng đất đai tiết www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Trang 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang kiệm và có hiệu quả, khuyến khích phát triển nông nghiệp cả về diện tích cũng như sản lượng, đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước đối với đất nông nghiệp. • Pháp lệnh thuế nhà, đất: Pháp lệnh thuế nhà, đất được ban hành từ năm 1992, pháp lệnh này chỉ thu thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình; chưa thu thuế đối với nhà. Căn cứ tính thuế đối với đất dựa vào căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp tức là mức thuế đất gấp mấy lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp. Ví dụ mức thuế đất Hà Nội cao nhất, gấp 32 lần mức thuế nông nghiệp. Pháp lệnh thuế nhà, đất ra đời để sử dụng có hiệu quả nguồn lực của đất nước và tăng thu cho ngân sách, đáp ứng các yêu cầu cho đầu tư phát triển đất nước II. Thực tiễn việc ban hành thuế sử dụng đất và những hạn chế của thuế sử dụng đất nông nghiệp và pháp lệnh thuế nhà, đất: 1. Thuế sử dụng đất nông nghiệp. 1.1 Thực tiễn việc ban hành và thực hiện: Thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện điều tiết thu nhập từ việc sử dụng đất nông nghiệp, đất trồng rừng. Căn cứ tính thuế SDĐNN là diện tích, hạng đất và định suất thuế. Do việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp, đất trồng rừng đã cơ bản hoàn thành, nên việc quản lý đối tượng nộp thuế, diện tích tính thuế tương đối đầy đủ, chặt chẽ. Kết quả cụ thể từ năm 2000 đến năm 2003 như sau: 1.2 Những mặt hạn chế của thuế sử dụng đất nông nghiệp: Bối cảnh hiện nay là sự tích tụ đất đai và phân hóa giàu nghèo trong nông nghiệp đang ngày càng rõ nét, do vậy, tính công bằng xã hội giữa người sử dụng nhiều đất, người sử dụng ít đất vào sản xuất nông nghiệp và với những người sử dụng đất vào các mục đích khác đang có chiều hướng giảm. Điều này đặt ra yêu cầu hợp nhất Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp và Pháp lệnh Thuế nhà, đất. Trong đó thay đổi căn bản các căn cứ tính thuế là diện tích, giá đất và thuế suất, đảm bảo thuế sử dụng đất chỉ điều tiết thu vào đất, không thu vào hoa lợi trên đất, nhằm tăng năng suất và thay đổi cơ cấu cây trồng, thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Luật mới còn bảo đảm công bằng trong nghĩa vụ thuế giữa các loại đất và giữa các tầng lớp cư dân nông thôn với đô thị. Theo các chuyên gia, nội dung luật thuế sử dụng đất tăng cường quản lý nhà nước về đất đai để sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, hạn chế sự tích tụ đất đai và phân hóa giàu nghèo trong nông nghiệp, tức là hạn chế mặt trái của chính sách phát www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Trang 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang triển kinh tế trang trại. Ngoài ra, luật mới cũng phải đơn giản hóa, phù hợp với nông dân, với trình độ của cán bộ thuế và nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuế. Đây được coi là bước đột phá trong tiến trình cải cách thuế bước II (bước I là giai đoạn 1990-1995). 2. Pháp lệnh thuế nhà, đất: 2.1 Thực tiễn việc ban hành và thực hiện: Sau một thời gian thực hiện, thuế nhà đất đã bộc lộ một số nhược điểm như: thiếu sự thống nhất giữa các văn bản quản lý, mức thu thuế cao đối với đất ở vùng nông thôn... Sau một lần sửa đổi, đến ngày 19/5/1994, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất phù hợp với tình hình thực tế, chủ yếu là điều chỉnh mức thuế so với thuế sử dụng đất nông nghiệp. Hiện nay, chúng ta mới chỉ thực hiện đánh thuế đối với đất, tạm thời chưa quy định đánh thuế đối với nhà. Thuế đất thực hiện điều tiết thu nhập trong phạm vi sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ... đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng đất (trừ trường hợp sử dụng đất thuê). Kết quả quản lý đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế và số thuế nhà, đất cụ thể từ năm 2000 đến năm 2003 như sau: 2.2 Những mặt hạn chế của Pháp lệnh thuế nhà, đất: Thứ nhất, Pháp lệnh thuế nhà, đất được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 03/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều tiết nguồn thu đối với đất phi nông nghiệp. Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc tăng cường quản lý, động viên đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, tăng cường nguồn lực cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, qua hơn 16 năm thực hiện, đến nay, trước những bất cập phát sinh trong quản lý, điều tiết việc sử dụng đất, nhiều quy định của Pháp lệnh đã không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật đất đai năm 2003; nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế chưa tương xứng với giá trị đất đai; đặc biệt, chưa thể hiện vai trò điều tiết, quản lý của Nhà nước trong vận hành nền kinh tế thị trường. Thứ hai, một số quy định về quản lý thuế đất trong Pháp lệnh đã được thể hiện trong Luật quản lý thuế. Vì vậy, việc sửa đổi, nâng cao giá trị pháp lý của Pháp lệnh là cần thiết, nhằm hoàn thiện một bước khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng đất theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, công bằng; đồng thời, việc ban hành luật nhằm thể chế hóa chủ trương đổi mới chính sách về đất đai mà Đảng đã đề ra www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!