Trang 1
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THERAVÀDA – NGUYÊN THỦY GIÁO ÁN TRƯỜNG BỘ KINH (DÌGHA NIKÀYA) Tỳ Khưu PASÀDO Sán Nhiên Biên Soạn: PL 2534 – DL 1990 Hiệu Đính: PL 2555 – DL 2011
Đang tạo bản xem trước...
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THERAVÀDA – NGUYÊN THỦY GIÁO ÁN TRƯỜNG BỘ KINH (DÌGHA NIKÀYA) Tỳ Khưu PASÀDO Sán Nhiên Biên Soạn: PL 2534 – DL 1990 Hiệu Đính: PL 2555 – DL 2011
ÐÔI DÒNG CẢM NGHĨ KÍNH DÂNG LÊN BẬC ÂN SƯ Thật là một phước báu và duyên lành cho hàng Phật tử vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn được hội ngộ với nhà sư Sán Nhiên, bậc thiện tri thức và đại trí huệ, uyên thâm giáo pháp cao siêu Phật đà, đã đem nguồn suối Chánh Pháp Nhãn Tạng tưới mát đời sống tâm linh của chúng con. Từ khi Sư hiện diện nơi miền đất lành Thủ Ðô, chúng con được ấm áp trong tâm từ và tình thương của Sư, cũng như được soi sáng bởi tuệ giác của Sư qua những bài thuyết giảng thâm sâu và dễ hiểu. Bản thân chúng con nói riêng và đại chúng nói chung được thọ hưởng hương vị Pháp Bảo của Như Lai qua pháp âm của Sư để thực tập trong đời sống hằng ngày. Chúng con vô cùng tri ân Sư, nhờ sự giảng dạy Kinh Pháp Cú, Kinh Kiết Tường, và Triết Lý Về Nghiệp hơn 6 tháng qua, mà tâm thức của chúng con được khai mở, khiến cuộc sống của chúng con thêm phần thăng hoa, và chúng con cũng ý thức được phần nào chân lý của đời sống. Với lối sống giản dị, hài hòa, vui tươi, gần gũi, và thân thiện, Sư đã thu hút được tín tâm của Phật tử. Mặc dù mệt nhọc sau một ngày dài làm việc, các Phật tử luôn có mặt đông đủ trong lớp học hằng tuần với tấm lòng sẵn sàng và hoan hỷ tiếp nhận linh dược để bồi bổ tâm linh mà Sư đã hết lòng trao truyền. Ngoài việc giảng dạy giáo lý và hướng dẫn thiền tập, Sư còn hoạch định, điều động, và trông coi công trình trùng tu và phát triển Tâm Pháp Thiền Viện với đại hạnh nguyện là góp phần làm cho bánh xe giáo pháp luôn được luân chuyển. Và với tâm huyết thực hiện Phật sự không hề mệt mỏi, Sư đã phát triển khuôn viên Tâm Pháp Thiền Viện từ một khu rừng rậm rạp vắng vẻ, nay đã mang đầy sắc thái tâm linh với những di tích Phật giáo thanh tịnh, trang nghiêm, khiến ai đặt chân đến thiền viện cũng đều cảm nhận được năng lượng thảnh thơi, an vui, tự tại trong từng mỗi bước chân và hơi thở. Dòng cảm xúc dạt dào nhưng ngôn từ thì không thể diễn đạt được hết tấm lòng tri ân và trân quí mà chúng con kính dâng lên Sư. Chúng con xin nguyện lắng tâm nghe học giáo pháp nhiệm mầu mà Sư dốc lòng giảng dạy, cũng như xin nguyện tinh tấn hành trì. Chúng con kính chúc Sư thân tâm thường an lạc, tăng phúc, tăng thọ, hưởng cảnh quả phước như ý nguyện, thành tựu viên mãn công trình phát triển Tâm Pháp Thiền Viện, và nhất là luôn có thật nhiều, thật nhiều niềm vui, niềm tin, và niềm thương trên con đường hướng dẫn Phật tử tu tập và gieo trồng thiện nghiệp. Tâm Hân Huệ (Hội Thiện Ðức – Universal Benevolence Foundation) Page 2
Giáo Án TRƯỜNG BỘ KINH Ấn Bản 2011 Đại Đức Giáo Thọ Sán Nhiên biên soạn (1990) và hiệu đính (2011) Tâm Pháp Thiền Viện Saddhamma Meditation Society 574 Willow Brook Road Bumpass, VA 23024 Phone: 804-556-6162 http://www.saddhamma.com tamphapthienvien@gmail.com Kỳ Viên Tự Jetavana Vihara 1400 Madison Street Northwest Washington, D.C. 20011 Phone: 202-882-6054 Hội Thiện Ðức Universal Benevolence Foundation P.O. Box 523582, Springfield, Virginia 22152 USA http://www.hoithienduc.org/ hoithienduc@gmail.com Page 3
TRI ÂN Hội Thiện Ðức chúng con vô cùng trân quí và luôn mãi khắc ghi ân đức sâu rộng của đại đức giáo thọ Sán Nhiên với đại hạnh nguyện giảng dạy giáo lý Trường Bộ Kinh cho đại chúng ở vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, cũng như đã dầy công biên soạn và hiệu đính tập sách Giáo Án Trường Bộ Kinh để cho đại chúng có thể tham khảo thêm trong Khóa Học Trường Bộ Kinh được tổ chức dài hạn tại Thomas Jefferson Library (Arlington, VA). Thật là một phước duyên lớn và niềm vui lớn cho Hội Thiện Ðức chúng con khi được sư Sán Nhiên hoan hỷ cho phép tổ chức khóa học và ấn tống tập sách này. Chúng con xin nguyện cùng với đại chúng lắng tâm học hiểu và thực tập, cũng như tận lực góp phần phổ biến rộng rãi giáo lý Trường Bộ Kinh đến với đại chúng tu học và các cộng đồng Phật tử người Việt qua công trình phát hành tập sách và băng giảng Trường Bộ Kinh. Hội Thiện Ðức thật cảm kích và xin hết lòng ca ngợi sự yểm trợ tinh thần cùng sự đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống kinh sách này. Lần này tập sách có được những tấm hình màu tươi đẹp là nhờ vào sự phát tâm rộng lớn của rất nhiều, rất nhiều quý bạn lành! Xin cám ơn Tâm Hân Huệ hoan hỷ dâng lên Sư đôi dòng cảm nghĩ, cũng như chia sẻ về những thành quả hoằng dương Phật pháp và phát triển đạo tràng của Sư trong thời gian gần đây để đại chúng xa gần được rõ biết. Xin cám ơn anh Lê Lộc (PA) thiết kế bìa sách cùng trình bày sách; anh Chúc Giới và Thân Quỳnh chụp và cung cấp hình ảnh sinh hoạt trong Khóa Học Kinh Pháp Cú; anh Chúc Giới, anh Lê Lộc, chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, Ngọc Thanh, và Tâm Hân Huệ phụ giúp thông báo dự án ấn tống sách và quyên góp tịnh tài; và chị Diệu Âm phụ trách sổ sách quỹ ấn tống. Xin đa tạ chú Phan Thanh Thu, cô Quỳnh Trâm, chị Võ Mỹ Lương, Sonny Phan, cùng nhà in CT Printing & Graphics (Silver Spring, MD) tận tình giúp đỡ việc ấn loát tập sách này trong một khoảng thời gian thật ngắn. Kính xin đảnh lễ tạ ân chư Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền Tăng, Tổ, Thầy, cùng Pháp Bảo đã gia hộ cho tăng thân Thiện Đức thành tựu viên mãn công trình ấn tống tập sách Giáo Án Trường Bộ Kinh. Kính xin chia sẻ quả phước báu này đến hết thảy phạm thiên, chư thiên, chúng sanh trong ba cõi sáu đường đều được an vui trong cuộc sống, cũng như có nhiều duyên lành nghe thấy, học hỏi, và thực hành đạo lý tỉnh thức trong nhà Phật. Tăng Thân Thiện Đức Page 4
MỤC LỤC Giới thiệu tổng quát về Trường Bộ Kinh (DÌGHA NIKÀYA)......................................................6 Bài 1 – Kinh Phạm Võng (BRAHMAJÀLA SUTTA).................................................................9 Bài 2 – Kinh Sa Môn Quả (SÀMAÑÑAPHALA SUTTA)........................................................17 Bài 3 – Kinh A Ma Trú (AMBATTHA SUTTA)..................................................................26 Bài 4 – Kinh Chủng Đức (SONADANDA SUTTA)............................................................29 Bài 5 – Kinh Cửu La Đàn Đầu (KÙTADANTA SUTTA).........................................................32 Bài 6 – Kinh Ma Ha Lê (MAHÀLI SUTTA).............................................................................37 Bài 7 – Kinh Xá Lợi (JALIYA SUTTA)....................................................................................40 Bài 8 – Kinh Ca Diếp Sư Tử Hống (KASSAPA SÌHANÀDA SUTTA)...................................41 Bài 9 – Kinh Bố Thác Bà Lậu (POTTHAPÀDASUTTA).........................................................43 Bài 10 – Kinh Tu Bà (SUBHA SUTTA)......................................................................................50 Bài 11 – Kinh Kiên Cố (KEVADHA SUTTA)............................................................................50 Bài 12 – Kinh Lô Giá (LOHICCA SUTTA)................................................................................53 Bài 13 – Kinh Tam Minh (TEVIJJA SUTTA).............................................................................56 Bài 14 – Kinh Đại Bổn (MAHÀPADÀNA SUTTA)...................................................................59 Bài 15 – Kinh Đại Duyên (MAHÀNIDÀNA SUTTA)................................................................72 Bài 16 – Kinh Đại Viên Tịch Níp Bàn (MAHÀPARINIBBÀNA SUTTA)................................76 Bài 17 – Kinh Đại Thiện Kiến Vương (MAHÀ SUDASSANA SUTTA).................................104 Bài 18 – Kinh Xà Ni Sa (JANAVASABHA SUTTA)...............................................................112 Bài 19 – Kinh Đại Diễn Tôn (MAHÀGOVINDA SUTTA).......................................................116 Bài 20 – Kinh Đại Hội (MAHÀSAMAYA SUTTA)..................................................................121 Bài 21 – Kinh Đế Thích Sở Vấn (SAKKAPANHÀ SUTTA).....................................................123 Bài 22 – Kinh Đại Niệm Xứ (MAHÀSATIPATTHÀNA SUTTA)............................................131 Bài 23 – Kinh Tệ Túc (PÀYÀSI SUTTA)...................................................................................139 Bài 24 – Kinh Ba Lê (PÀTIKA SUTTA)....................................................................................147 Bài 25 – Kinh Ưu Đàm Bà La Sư Tử Hống (UDAMBARIKÀ SÌHANÀDA SUTTA).............150 Bài 26 – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống............................................................154 (CAKKAVATI SÌHANÀDA SUTTA)........................................................................154 Bài 27 – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (AGGAÑÑA SUTTA).......................................................157 Bài 28 – Kinh Tự Hoan Hỷ (SAMPASÀDANIYA SUTTA).....................................................163 Bài 29 – Kinh Thanh Tịnh (PÀSÀDIKA SUTTA).....................................................................173 Bài 30 – Kinh Tướng Trạng (LAKKANA SUTTA)...................................................................179 Bài 31 – Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt (SIGÀLOVÀDA SUTTA).........................................186 Bài 32 – Kinh A Sá Năng Chí (ATÀNÀTIYA SUTTA)............................................................192 Bài 33 – Kinh Phúng Tụng (SANGÌTI SUTTA)........................................................................202 Bài 34 – Kinh Thập Thượng (DASUTTARA SUTTA)..............................................................231 Phương Danh Ấn Tống – Năm 2011...........................................................................................264 Hình Ảnh Sinh Hoạt Trong Khóa Học Kinh Pháp Cú................................................................268 Page 5
TRƯỜNG BỘ KINH – DÌGHA NIKÀYA (TẠNG PÀLÌ) ---------------------- Trường Bộ Kinh có 34 bài kinh, với mỗi bài kinh có nội dung rất dài, đề cập trọn đủ một vấn đề, và không lệ thuộc vào bộ kinh nào khác. Tên gọi của mỗi một bài kinh: 1. Kinh BRAHMAJÀLA – Kinh Phạm Võng 2. Kinh SÀMAÑÑAPHALA – Kinh Sa Môn Quả 3. Kinh AMBATTHA – Kinh A Ma Trú 4. Kinh SONADANDA – Kinh Chủng Đức 5. Kinh KÙTADANTA – Kinh Cửu La Đàn Đầu 6. Kinh MAHÀLI – Kinh Ma Ha Lê 7. Kinh JALIYA – Kinh Xá Lợi 8. Kinh KASSAPA SÌHANÀDA – Kinh Ca Diếp Sư Tử Hống 9. Kinh POTTHAPÀDA – Kinh Bố Thác Bà Lậu 10. Kinh SUBHA – Kinh Tu Bà 11. Kinh KEVADHA – Kinh Kiên Cố 12. Kinh LOHICCA – Kinh Lô Giá 13. Kinh TEVIJJA – Kinh Tam Minh 14. Kinh MAHÀPADÀNA – Kinh Đại Bổn 15. Kinh MAHÀNIDÀNA – Kinh Đại Duyên 16. Kinh MAHÀPARINIBBÀNA – Kinh Đại Viên Tịch Níp Bàn 17. Kinh MAHÀ SUDASSANA – Kinh Đại Thiện Kiến Vương 18. Kinh JANAVASABHA – Kinh Xà Ni Sa 19. Kinh MAHÀGOVINDA – Kinh Đại Diễn Tôn 20. Kinh MAHÀSAMAYA – Kinh Đại Hội 21. Kinh SAKKAPANHÀ – Kinh Đế Thích Sở Vấn 22. Kinh MAHÀSATIPATTHÀNA – Kinh Đại Niệm Xứ 23. Kinh PÀYÀSI – Kinh Tệ Túc 24. Kinh PÀTIKA – Kinh Ba Lê 25. Kinh UDAMBARIKÀ SÌHANÀDA – Kinh Ưu Đàm Bà La Sư Tử Hống 26. Kinh CAKKAVATI SÌHANÀDA – Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống 27. Kinh AGGAÑÑA – Kinh Khởi Thế Nhân Bổn Page 6
28. Kinh SAMPASÀDANIYA – Kinh Tự Hoan Hỷ 29. Kinh PÀSÀDIKA – Kinh Thanh Tịnh 30. Kinh LAKKHANA – Kinh Tướng Trạng 31. Kinh SIGÀLOVÀDA – Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt 32. Kinh ATÀNÀTIYA – Kinh A Sá Năng Chí 33. Kinh SANGÌTI – Kinh Phúng Tụng 34. Kinh DASUTTARA – Kinh Thập Thượng Ba bài kinh đầu tiên, Kinh Phạm Võng, Kinh Sa Môn Quả, và Kinh A Ma Trú, là những bài kinh quan trọng bậc nhất trong Trường Bộ Kinh. Bài kinh Phạm Võng giới thiệu 62 Tà Kiến của các ngoại đạo đương thời, gián tiếp đặt đạo Phật ra ngoài các tà thuyết trên, và xác minh lập trường của đức Phật đối với các vấn đề vũ trụ và nhân sinh. Kinh này cũng đề cập đến Giới của đức Phật, từ Tiểu Giới đến Đại Giới, gián tiếp so sánh đời sống xa hoa phù phiếm của các Sa Môn, Bà La Môn đương thời với đời sống giản dị giải thoát của đức Thế Tôn. Cũng chính trong bài kinh này, đức Phật nói, chỉ có kẻ vô văn phàm phu mới tán thán giới đức, còn bậc thiện trí thì tán thán trí đức của Ngài. Và chính nhờ vào trí đức, đức Phật đã tóm thâu hết thảy mọi tà thuyết hiện hữu trong đời và truy nguyên căn nhân cùng động lực của mọi tà thuyết. Bài kinh Sa Môn Quả giới thiệu thứ bậc của một vị xuất gia theo đức Phật, từ khi mới bước chân vào Thiền Môn cho đến khi thành đạt Đạo Quả. Kinh này khéo hệ thống hóa sự tu hành của một vị Sa Môn một cách rõ ràng và mạch lạc, cũng như trình bày những kết quả tốt đẹp và thiết thực do hạnh Sa Môn mang đến. Bài kinh A Ma Trú bênh vực cho sự bình đẳng giai cấp và bác bỏ nền thống trị giai cấp của Bà La Môn. Qua bài kinh này, đức Phật nhấn mạnh địa vị con người, không thể bằng cứ vào giai cấp, mà phải dựa trên nền tảng giới đức và trí đức của con người. Với mười bài kinh tiếp theo (từ bài thứ 4 đến 13), thì bài kinh Tu Bà với đại đức Ànanda, nói đến phương pháp tu hành của Sa Môn Gotama sau khi đức Phật vừa mới viên tịch Níp Bàn, tương tự như nội dung của bài kinh Sa Môn Quả, và phân loại theo ba pháp Vô Lậu Học, Giới – Định – Tuệ. Chín bài kinh nối tiếp nêu lên những quan điểm và thái độ của đức Phật đối với những vấn đề xã hội Ấn Độ đương thời, sùng tín nhiệt thành, bất khả thuyết, khổ hạnh, linh hồn, thần thông biến hóa, Phạm Thiên cùng con đường đưa đến Phạm Thiên, và thái độ ích kỷ không thuyết giáo. Page 7
Mười bài kinh tiếp theo (từ bài thứ 14 đến 23) đề cập đến giáo lý thuần túy, với Liên Quan Tương Sinh trình bày về 12 lý duyên khởi. Bài kinh Đại Niệm Xứ đề cập đến phương pháp tu hành và nêu lên nét đặc trưng độc nhất đưa đến giải thoát. Bài kinh Viên Tịch Níp Bàn diễn tả lại những ngày cuối cùng của đức Phật và cuộc hành trình tối hậu suốt ba tháng trường, từ thành Vương Xá đi qua các thành phố lớn nhỏ, cuối cùng đến Kusinarà và viên tịch Níp Bàn, mang một tầm vóc lịch sử rất có giá trị trên con đường truyền giáo của Ngài, v.v... Tiếp theo là những bài kinh khuyến khích đời sống tu tập của các vị tỳ khưu, hãy tự sống với chính mình, là ngọn đuốc cho chính mình, và giữ gìn oai nghi chánh hạnh. Phủ nhận giá trị tối thượng của giai cấp Bà La Môn và xác nhận sự bình đẳng của bốn giai cấp theo hành vi Thiện Ác của mình. Lấy Chánh Pháp là vị tối thượng, dù là thuộc giai cấp nào đi nữa, vì Pháp là tối thượng. Bài kinh Tự Hoan Hỷ nói lên lòng tin tưởng vô biên của đại đức Xá Lợi Phất đối với đức Phật bởi vì đại đức Xá Lợi Phất biết đến truyền thống Chánh Pháp, tất cả bậc Chánh Đẳng Giác đã diệt trừ Ngũ Triền Cái, an trú trong Tứ Niệm Xứ, tu hạnh Thất Giác Chi, và chứng đắc Vô Thượng Giác. Với bài kinh Thanh Tịnh, đức Phật khuyên chư tỳ khưu nên sống hòa hợp, dung hòa, tương thân tương kính, không nên tranh chấp cãi cọ với nhau. Với bài kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, đức Phật giải thích ý nghĩa và giá trị trong việc lễ bái Lục Phương, là diệt trừ bốn nghiệp phiền não, không làm điều ác theo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản. Đức Phật giải thích rõ ràng từng phương một trong Lục Phương. Phương Đông chỉ cho Cha Mẹ - Con Cái, phương Nam chỉ cho Thầy - Trò, phương Tây chỉ cho Vợ - Chồng, phương Bắc chỉ cho Bạn Hữu, phương Dưới chỉ cho Chủ - Tớ, và phương Trên chỉ cho Sa Môn - Bà La Môn. Chính những sự đối xử tương xứng tạo ra sự an lạc, hoan hỷ cho cả Lục Phương. Với bài kinh A Sá Năng Chí, được đức Phật thuận ý, vua Tỳ Sa Môn giới thiệu học chú (kàthà) để khởi lòng tin cho hàng Dạ Xoa và cũng để che chở hộ trì Tứ Chúng. Hai bài kinh cuối cùng, Kinh Phúng Tụng và Kinh Thập Thượng, do đại đức Xá Lợi Phất thuyết giảng với các Pháp Số từ một đến mười, tóm lược và giải thích các Pháp mà đức Phật đã khéo thuyết giảng, phân loại từ một chi Pháp đến mười chi Pháp, với mục đích ôn lại những lời giảng dạy của đức Phật cho được tròn đủ, Page 8
không thiếu sót, và tránh khỏi sự tranh luận. Hai bài kinh cuối này rất quan trọng vì mở đầu cho các học giả được thuận duyên tu học Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhamma) sau này. Xuyên qua 34 bài kinh thuộc Trường Bô Kinh, học giả hội túc duyên sẽ lãnh hội nhiều lợi lạc trong việc tu học và trau giồi trí tuệ, ngõ hầu tiến tới Đạo Quả giải thoát Níp Bàn. ------------00000------------ BÀI 1: KINH PHẠM VÕNG (BRAHMAJÀLA SUTTA) A. Xuất Xứ: Đức Thế Tôn đã thuyết giảng Pháp Thoại này cho 500 vị tỳ khưu tăng tại lâm viên AMBALATTHIKÀ, ở căn nhà nghỉ mát của nhà vua khi đêm vừa tàn. B. Duyên Khởi: Do ngoại đạo SUPPIYA và đệ tử BRAHMADATTA nói lên lời tương phản lẫn nhau về Tam Bảo. SUPPIYA thì chỉ trích Phật, Pháp, Tăng. Trái lại, BRAHMADATTA lại hết lời tán thán Tam Bảo. Câu chuyện này diễn ra khi đi sau lưng đức Phật và chúng tăng trên đường từ RÀJAGAHA đến NALANDÀ, và cùng vào trú ngụ tại AMBALATTHIKÀ. Sau khi được nghe, chư tăng đã bàn với nhau câu chuyện này và thuật lại cho đức Thế Tôn. C. Chánh Kinh: Có bốn điểm chánh yếu, rất hữu ích cho sự tu tập: I. Điềm tỉnh trước Khen và Chê Trước mọi sự Khen và Chê ở đời, ta cần phải hết sức bình tỉnh. Giữ được trạng thái bình tỉnh ở nội tâm đặng biết rõ được các sự ấy. Khi đã nhận định đúng đắn từng mỗi lời Khen và Chê thì cần phải nói lên, đặng chỉ rõ những điểm nào đúng hoặc không đúng trong những sự Khen và Chê ấy. II. Chỉ hạng vô văn phàm phu mới tán thán giới hạnh của đức Thế Tôn Page 9
Những người thiểu trí, không được rõ biết những ân đức to lớn của đức Phật (Tịnh Đức, Bi Đức, và Trí Đức) thì mới tán thán giới hạnh của Ngài, được phân định theo ba loại: 1. TIỂU GIỚI: Xa lìa tuyệt hẳn về Thập Ác và Thân-Lời-Ý Nghiệp của Ngài luôn thuần tịnh, đoạn tận mọi phiền não thô và tế. 2. TRUNG GIỚI: Khước từ mọi lợi dưỡng của thế gian, thanh tịnh trong hạnh thiểu dục tri túc, sống giản dị, tinh khiết chánh hạnh, tịnh ngữ. 3. ĐẠI GIỚI: Nuôi mạng chân chánh, không vì phục vụ theo thị hiếu của người đời, chánh mạng thuần khiết. Khi nghĩ đến Ngài, một bậc đã được giải thoát, giải thoát tri kiến, thành đạt quả vị VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG GIÁC thì không thể chỉ nghĩ ngợi ở phần Tịnh Đức giới hạnh, mà chính là ở phần Trí Đức, cần phải nghĩ đến trí tuệ vô song, có một không hai trong đời. Những Pháp thậm thâm cực nan kiến, mỹ diệu vô cùng mà chính Ngài đã tự chứng tri, giác ngộ, và truyền giảng. Chính như vậy, với người có trí chân chánh tán thán đức Thế Tôn. III. Tóm lược sáu mươi hai Tà Thuyết Với hạnh nguyện mong cầu giải thoát, diệt tập khí sanh tử, rất cần phải biết các pháp tà thuyết sai lầm dẫn đến tri kiến lầm lạc để tránh, ngõ hầu tiến hóa, lìa mọi nhân sanh khổ ưu trong Tam Giới. Ghi chú: 1. Định nghĩa về Pháp Tà Kiến (Micchàdiṭṭhi) Tà Kiến là sự nhận định hay cố chấp theo pháp sai lạc, không đúng, trái với chân lý thực tướng. Có Pàlì chú giải như sau: “Micchà passatìti: Diṭṭhi” nhận thấy sai lạc với pháp chân chánh, gọi là Tà Kiến. 2. Có bốn ý nghĩa về Tà Kiến * Trạng thái: Chấp ý bất như lý, chấp cứng những cách không đáng chấp. Page 10
Hiển thị 10 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!