Chủ nghĩa xã hội khoa học - ĐH Mở - TP.HCM

UN
Uni24h
0 lượt tải
103
0

Nội dung tài liệu

Trang 1

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học LỜI GIỚI THIỆU Bạn thân mến ! Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn sinh viên tập tài liệu đề cương bài giảng môn chủ nghĩa xã hội khoa học. Tài liệu này biên soạn dựa trên cơ sở giáo trình chuẩn Quốc gia & giáo trình của Bộ Giaó dục & Đào tạo phát hành tháng 6 năm 2006, và nghị quyết của các kỳ đại hội Đảng toàn quốc, đặc biệt là nghị quyết Đại hội X. Trong quá trình biên soạn việc sai sót là không thể tránh khỏi. Rất mong được sự đóng góp của quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên để cùng chúng tôi tiếp tục bổ sung sữa chữa hoàn thiện hơn. Mọi đóng góp xin gửi về Bộ môn chủ nghĩa xã hội khoa học Trường Đại học Mở TPHCM – Hoặc Email: hoang.dn@ou.edu.vn Trân trọng gửi tới các bạn lời chào đoàn kết và xây dựng. Bộ môn CNXHKH Trường Đại học Mở TPHCM Trang 1

Trang 2

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học CHƯƠNG I VỊ TRÍ, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ CHỨC NĂNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC I. VỊ TRÍ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 1. Khái niệm và những đặc điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học 1.1. khái niệm: Chủ nghĩa xã hội khoa học là một ý nghĩa về mặt lý luận nằm trong khái niệm “ chủ nghĩa xã hội”, là một trong trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu sự vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ được thay thế bằng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. 1.2. Đặc điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học: + Một là, về nhận thức thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội khoa học” nó chỉ là một ý nghĩa lý luận nằm trong khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội khoa học” là đỉnh cao của nhất của sự phát triển “chủ nghĩa xã hội”. + Hai là, chủ nghĩa xã hội khoa học khác với chủ nghĩa xã hội không tưởng là ở chỗ nó đã chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức thủ tiêu tình trạng người bóc lột người mà những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng hằng mơ ước. + Ba là, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học là dựa trên cơ sở đúc kết của triết học Mác – Lênin và của kinh tế học chính trị học Mác – Lênin. + Bốn là, chủ nghĩa xã hội khoa học là thế giới quan, là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nó biểu hiện không chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân mà của toàn thể nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới . + Năm là, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học là sự tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động chống lại sự áp bức bóc lột, bất công và từ những kinh nghiệm trong xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa . 2. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học + Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác – Lênin. ( chủ nghĩa Mác – Lênin gồm có: triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học). + Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin. Bởi vì, suy cho cùng cả triết học Mác lẫn kinh tế chính trị Mác đều luận giải dẫn đến tính tất yếu của lịch sử là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa. Lý luận xuyên suốt của chủ nghĩa xã hội khoa học: giai cấp công nhân có sứ Trang 2

Trang 3

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học mệnh lịch sử là xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và xã hội cộng sản chủ nghĩa. II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI KHẢO SÁT, ỨNG DỤNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 1. Đối tượng nghiên cứu của triết học và kinh tế học chính trị Mác – Lênin là cơ sở lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học - Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, là thế giới quan, nhân sinh quan của giai cấp công nhân, nó là cơ sở lý luận, là phương pháp luận của chủ nghĩa xã hội khoa học. - Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị Mác – Lênin là những quy luật của các quan hệ xã hội hình thành và phát triển trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, nó là cơ sở lý luận cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học nhằm làm rõ những quy luật, những vấn đề của thời đại ngày nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. 2. Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học là “Những quy luật và tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”. 3. Phạm vi khảo sát và vận dụng của chủ nghĩa xã hội khoa học Với tư cách là một khoa học, cũng như các khoa học khác: lý thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học được bắt nguồn từ sự khảo sát, phân tích những tư liệu thực tiễn, thực tế. Do đó, khi vận dụng những lý thuyết khoa học đương nhiên phải gắn liền với thực tế, thực tiễn một cách chủ động, sáng tạo, linh hoạt sao cho phù hợp và hiệu quả nhất trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Nhận thức được những nội dung nêu trên chúng ta mới có khả năng khắc phục những bệnh đơn giản, chủ quan duy ý chí, thờ ơ chính trị…. III. PHƯƠNG PHÁP CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 1. Phương pháp luận chung của chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học sử dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, đồng thời cũng sử dụng những phương pháp khác có tính liên nghành, và tổng hợp. 2. Các phương pháp đặc trưng của chủ nghĩa xã hội khoa học Trang 3

Trang 4

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học - Phương pháp liên ngành: chủ nghĩa xã hội khoa học là một môn khoa học xã hội nói chung và khoa học chính trị - xã hội nói riêng, do đó nó cần thiết phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể của các khoa học xã hội khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, sơ đồ hoá, mô hình hoá, v v… để nghiên cứu những khía cạnh chính trị - xã hội của các mặt hoạt động trong một xã hội còn giai cấp, đặc biệt là trong chủ nghĩa tư bản và trong chủ nghĩa xã hội. - Phương pháp kết hợp lịch sử - logic. Đây là phương pháp luận dựa trên cơ sở những tư liệu thực tiễn của lịch sử để phân tích nhằm rút ra những nhận định, những khái quát về mặt lý luận có kết cấu chặt chẽ, khoa học. - Phương pháp khảo sát và phân tích về mặt chính trị - xã hội là phương pháp có tính đặc thù của chủ nghĩa xã hội khoa học. khi nghiên cứu, khảo sát thực tế, thực tiễn một xã hội cụ thể, đặc biệt là trong điều kiện của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những người nghiên cứu, khảo sát… phải luôn có sự nhạy bén về chính trị - xã hội. - Phương pháp tổng kết lý luận từ thực tiễn, nhất là thực tiễn về chính trị - xã hội. Đây cũng là một phương pháp đặc thù của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chỉ có trên cơ sở tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm thành công và không thành công mới có thể bổ sung, làm giàu thêm cho kho tàng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học. IV. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 1. Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học - Thứ nhất, trang bị những tri thức để luận giải tính tất yếu sự ra đời của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. - Thứ hai, trang bị quan điểm lập trường cộng sản chủ nghĩa cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. - Thứ ba, định hướng về chính trị - xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản, của Nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, nhằm mục tiêu đi tới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. 2. Ý nghĩa nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu sự vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ được thay thế bằng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, khi nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học cần lưu ý : 2.1. Ý nghĩa về mặt lý luận: Trang 4

Trang 5

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học + Lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – lênin là bàn về vấn đề: giải phóng con người xã hội loài người ra khỏi sự áp bức bóc lột bất công, nghèo nàn lạc hậu, vì vậy khi nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác – lênin phải kết hợp nghiên cứu nhuần nhuyễn cả ba bộ phận thì nó mới đủ cơ sở để lý giải các vấn đề thực tiễn và lý luận ( triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học ). + Lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho chúng ta những quan điểm chính trị - xã hội, đó là những tri thức lý luận cơ bản để luận giải tính tất yếu sự ra đời của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. + Lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để cũng cố quan điểm niền tin, lập trường cộng sản chủ nghĩa cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động và định hướng của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản, của Nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, nhằm mục tiêu đi tới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. 2.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn Trước hết chúng ta phải thấy được cũng như bất kỳ một lý thuyết khoa học nào bao giờ cũng có khoảng cách giữa lý luận với thực tiễn, đặc biệt là dự báo khoa học xã hội. Vì vậy, khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin của nhiều người giảm sút. Vì thế, nghiên cứu, giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay, nhưng mỗi chúng ta phải thấy được quy luật vận động là một tất yếu không thể đảo ngược chỉ có điều quy luật xảy ra sớm muộn mà thôi. CÂU HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN. Câu hỏi ôn tập: 1. Chủ nghĩa xã hội khoa học là gì? Nó được hiểu theo mấy nghĩa? 2. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học trong hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin? 3. Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học là gì? 4. Phân biệt đối tượng của của chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng triết học, đối tượng kinh tế chính trị học Mác - Lênin? 5. Chủ nghĩa xã hội khoa học có những phương pháp nghiên cứu nào? Trình bày những phương pháp đó? Câu hỏi thảo luận 1. Phân tích chức năng của triết học Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học? Hai môn học này có quan hệ với nhau như thế nào? 2. Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học ở Việt Nam hiện nay? Trang 5

Trang 6

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRƯỚC MÁC Số tiết của chương: 6 tiết Số tiết giảng: 3 tiết Số tiết thảo luận, tự học: 3 tiết I. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là gì? 1.1. Khái niệm: tư tưởng xã hội chủ nghĩa là “một hệ thống những quan niệm phản ánh những nhu cầu, những ước mơ của các giai cấp lao động, bị thống trị về con đường, cách thức và phương pháp đấu tranh nhằm thực hiện một chế độ xã hội mà ở đó, tư liệu sản xuất là thuộc về toàn xã hội, không có áp bức và bóc lột. trên cơ sở đó, mọi người đều bình đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh”. 1.2. Những biểu hiện của tư tưởng xã hội chủ nghĩa: - Mọi tư liệu sản xuất đều là của chung. - Mọi người ai cũng có việc làm và ai cũng phải lao động. - Không có bóc lột, tự do, bình đẳng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. - Mọi người đều được hưởng thụ, cống hiến và phát triển toàn diện. 2. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa có từ bao giờ Theo Lênin tư tưởng xã hội chủ nghĩa xuất hiện: “đã lâu lắm rồi, đã hàng bao thế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay”, và cũng có thể nói một cách chính xác, tư tưởng đòi xoá bỏ tình trạng áp bức bót lột người, mọi tư liệu sản xuất đều là của chung, ai cũng có việc làm và ai cũng phải lao động, mọi người đều bình đẳng với nhau có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tư tưởng này xuất hiện sau khi công xã nguyên thuỷ tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, là chế độ bóc lột người tàn bạo nhất trong lịch sử. nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng đều thất bại. do đó, người ta đành gửi gắm những ước mơ khát vọng vào các câu chuyện, các truyền thuyết của tôn giáo, các tác phẩm văn chương được lan truyền, được phổ biến dưới dạng những câu chuyện, những áng văn chương, điển hình nhất là trong thần thoại thời Hy Lạp và La Mã Cổ Đại. II. PHÂN LOẠI TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa sơ khai ở Hy Lạp – La Mã cổ đại Trang 6

Trang 7

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học 1.1.Vài nét sơ lược về tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Hy Lạp Cổ Đại Hy Lạp Cổ Đại bao gồm các đảo thuộc biển Ê – Giê và vùng Tây Tiểu Á ngày nay. Hoàn cảnh tự nhiên của Hy Lạp không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng ngành thủ công nghiệp, buôn bán trên biển lại phát triển rất mạnh. Hy Lạp còn có một lợi thế là nằm giữa Châu Á, Châu Âu, và Châu Phi vì vậy Hy Lạp có điều kiện tiếp thu được các nền văn minh của các châu lục. Ở Hy Lạp, Nhà nước và giai cấp xuất hiện rất sớm, việc buôn bán nô lệ gắn liền với các đô thị sầm uất. Nô lệ phải làm đủ mọi việc từ chăn nuôi, trông trọt, chèo thuyền và các dịch vụ khác. Họ phải làm việc trong các điều kiện ràng buộc, bị đối xử khắc nghiệt tàn bạo của chủ nô, nếu lười biếng, chạy trốn sẽ bị cắt tai, xẻo mũi, cắt lưỡi nếu nặng hơn sẽ bị thả cho chó, cọp đói xé xác. Họ bị gạt ra khỏi đời sống chính trị, điều đó đã được hiến pháp qui định: “nô lệ không có tính người”. Do đó giai cấp cùng khổ này luôn luôn khát khao tự do và căm thù giai cấp chủ nô, Planton (427 – 347 TCN) viết: ”mỗi thành thị dù nhỏ bé đến đâu cũng chia thành hai khu vực, khu vực cho người giàu, khu vực cho người nghèo và chỗ nào có giàu nghèo phân chia sẽ có đấu tranh tàn khóc giữa hai phe”, các cuộc đấu tranh của nô lệ phản kháng lại chủ nô như là phá huỷ công cụ lao động sản xuất, cướp phá mùa màng, bỏ trốn. Giai cấp chủ nô đã dùng bộ máy quyền lực và các biện pháp tàn khốc để trừng trị nô lệ ngày càng tàn bạo, về sau nhiều cuộc đấu tranh được tổ chức cao hơn như là bạo động, khởi nghĩa có vũ trang, điển hình là phong trào Xpác-tơ, do một nô lệ lãnh đạo tên là A-Ghít (TK II TCN) với khẩu hiệu: xoá nợ, chia đều ruộng đất. Do đó đã được đông đảo nô lệ đi theo. Nhưng sau đó phong trào bị dập tắt. A-Ghít bị xử tử, tiếp tục phong trào được Cle-ô-men nhen nhóm, nghĩa quân đã giải phóng và làm chủ một vùng rộng lớn, ông đã thực hiện chủ trương chia đều lại ruộng đất, phong trào này kéo dài cho đến khi bị La Mã thống trị. 1.2. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời La Mã cổ đại: nổi bật là phong trào khởi nghĩa của anh em nhà Ti-bê-ri-uytx và Cai-uytx và cuộc khởi nghĩa do nô lệ Xpác-ta-quyt lãnh đạo ( cuối TK II đầu TK I TCN). Các cuộc khởi nghĩa này đều dẫn đến thất bại. Giai cấp nô lệ và người lao động bất lực tuyệt vọng, lối thoát ở đâu ? họ đã tìm thấy không phải ở thế gian này mà là ở lĩnh vực tôn giáo. Trong thời kỳ La-Mã chiếm đóng Hy-Lạp và vùng đất của người Paxletin với mâu thuẫn giữa hai giai cấp nô lệ và chủ nô vốn có đang còn nóng bỏng lại thêm mâu thuẫn giữa quân xâm lược chiếm đóng lại càng làm tăng thêm sự đau khổ cho người nô lệ. Trong hoàn cảnh đó đã xuất hiện nhiều nhà tiên tri hoạt động trong quần chúng, họ loan tin sẽ có thiên sứ của thần Giê-hô-va giáng thế để cứu vớt loài người khỏi nổi khổ trầm luân. Trong thời điểm đó nhân vật Giêsu xuất hiện. Ông là người theo đạo Do Thái nhưng lại rao giảng tư tưởng khác, tự xưng là Chúa cứu thế, là con của đức Chúa trời mà dân Do Thái mong chờ. Ông truyền đạo của Thượng Trang 7

Trang 8

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học Đế với những tư tưởng bác ái, nếu tin ở Chúa sẽ được Chúa rước về nướcThiên Đàng là nơi cực lạc sung sướng, được quần chúng lao động, nô lệ theo rất đông, Vì vậy, ông bị quy là tà đạo và bị các chức sắc cao cấp của đạo Do Thái kết tội làm gián điệp cho La Mã và bị tử hình lúc mới 33 tuổi. Ông không để lại tác phẩm nào nhưng các đồ đệ ghi lại lời giảng đạo của ông thành kinh tân ước, trong giáo lý của đạo Cơ Đốc sơ kỳ đã để lại cho người nô lệ một mơ ước có một đất nước của Chúa, nội dung của nó khác với cuộc nổi dậy bằng vũ lực mà phải chờ đợi bằng một phép màu của Chúa để được đến một nơi mà không có đói nghèo, bệnh tật, không có áp bức bất công. Đạo Do Thái và chính quyền La Mã đã dùng nhiều biện pháp kể cả vũ lực để đàn áp, nhưng không thành, về sau chính quyền La Mã đã cài người vào chức sắc của đạo Cơ Đốc dẫn đến sự phân hoá thành hai phái, phái lên án sự giàu có, phái khuyên nhà giàu nên giúp người nghèo, làm từ thiện giúp người nghèo để có cơ hội lên thiên đàng, về sau phái này dần dần hoà quyện vào chính quyền La Mã, phe chống lại sự giàu có tách ra lập thành tu viện kín nhưng dần dần cũng thoái hoá và nắm trong tay phần lớn ruộng đất và lúc này trở thành công cụ thống trị cả về tinh thần lẫn vật chất. 2. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV Đặc điểm từ thế kỷ XI-XV nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ, thương mại phục hồi, tiểu thủ công nghiệp từng bước tập trung ở các đô thi kèm theo nó là thất nghiệp, nhiều người trắng tay, xã hội xuất hiện một tầng lớp mới là giai cấp vô sản. Có thể nói cùng với nền kinh tế mới ( công trường thủ công tư bản) đã hình thành những tập đoàn xã hội có thái độ thù địch với chế độ xã hội đương thời và họ muốn thực hiện một xã hội cộng sản, cộng sản chủ nghĩa thời kỳ này rất đa dạng và nhìn chung không thoát khỏi màu sắc tôn giáo. Tiêu biểu của phong trào này là cuộc đấu tranh của Đôn-si-nô vào thế kỷ XIII ở Bắc Italia, cuộc đấu tranh của nông dân năm 1381 do một giáo sĩ tên Giôn Bôn với khẩu hiệu: cuộc sống ở Anh sẽ không tốt hơn chừng nào chưa có chế độ tài sản chung, chừng nào chưa có sự bình đẳng. Cuộc khởi nghĩa thất bại ông bị bắt và kết án tử hình. 3. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cận đại (từTK XVI - TK XIX) Khoảng từ thế kỷ XV-XVIII các công trường thủ công hình thành và phát triển dần thay thế cho sản xuất theo kiểu phường hội. Đồng thời cùng với nền công nghiệp lớn là hai giai cấp tư sản và vô sản được hình thành, lớn lên cùng với nền sản xuất ấy. Gắn liền với nền sản xuất công nghiệp lớn là sự mở mang thuộc địa, thị trường tư bản chủ nghĩa được mở rộng. Giai cấp tư sản từng bước thiết lập địa vị thống trị của mình, chủ nghĩa tư bản đã dần thay thế chế độ phong kiến ở Châu Âu, Bắc Mỹ. Sự tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ, kèm theo đó là sự phân hoá giai cấp và những xung đột giai cấp, Trang 8

Trang 9

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học … những điều kiện và tiền đề ấy đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng. 3.1. Tư tưởng “chủ nghĩa xã hội không tưởng” từ TK XVI đến TK XVIII: - Thế kỷ XVI: Tôma Morơ ( Thomas More, 1478-1535) người Anh, năm1504 trúng cử vào nghị viện phụ trách ngoại giao. Năm 1529 trở thành hầu tước tể tướng. Trong các tác phẩm của ông, đáng chú ý nhất là cuốn “UTOPIE” nghĩa là không tồn tại ở đâu cả. Nội dung: thuỷ thủ đoàn lạc đến một hòn đảo lạ có thổ dân sinh sống, ở đây không có sở hữu cá nhân, họ cùng nhau cày ruộng, coi thường vàng bạc, mọi người sống với nhau bình đẳng, tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng đều là của chung, nghị viện là cơ quan tối cao là tổ chức trực tiếp điều hành sản xuất, phân phối sản phẩm, điều tiết lao động. Mỗi người đều phải có nghĩa vụ lao động hai năm rưỡi sau đó thay phiên về thành phố nghỉ ngơi. Có nhà ăn công cộng, xoá án tử hình thay bằng lao động để cải tạo. Nghị viện do nhân dân trực tiếp bầu ra bằng phiếu kín. Tất cả trẻ em đều được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục bắt buộc. Nữ 18 nam 22 tuổi mới được kết hôn, thực hiện một vợ một chồng. Cha cố là do dân bầu và thay phiên nhau làm cha. Ngày lao động sáu giờ, sau đợt lao động sáu tháng có ba tháng nghỉ ngơi. - Thế kỷ XVII: Cămpanenla (Tomaso Cămpanella 1568-1639) người Italia, sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp thợ thủ công, có nhiều tác phẩm, nhưng đáng chú ý nhất là tác phẩm: “thành phố mặt trời”. Nội dung kể về thuỷ thủ Giêm-mơ đi lạc vào một đảo lạ có một cộng đồng sống với nhau rất lý tưởng. Về kinh tế - xã hội: tư liệu sản xuất, thậm chí cả vợ chồng cũng chung vì ông cho rằng sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra bất công, đói nghèo. Trong xã hội mặt trời không có ai chây lười, ăn bám, trộm cắp. Nghề nào cũng được quý trọng, phụ nữ làm việc nhẹ, nam giới làm việc nặng, thực hiện phân phối theo nhu cầu, dân trực tiếp bầu người lãnh đạo cao nhất gọi là ông mặt trời, trong xã hội mặt trời không phân biệt giai cấp, tầng lớp, đẳng cấp. Mọi người đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Trong xã hội ai giỏi được trọng vọng, những kẻ lười biếng sẽ bị xã hội lên án. Dưới ông mặt trời còn có ba cơ quan chức năng đại biểu cho sức mạnh, trí tuệ và tình yêu. ( Hiện nay ở miền Nam sa mạc của Israel, ốc đảo Kibbutz, tiếng do thái cổ có nghĩa là cùng nhau chung sống, cộng đồng người này không dùng tiền, cùng lao động chung, lương thực được chia theo nhu cầu, con cái do nhà trẻ nuôi tập thể tách khỏi cha mẹ). + Gierắcdơ Uynxtenly (1609-1652): sau thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản Anh, chủ nghĩa tư bản có điều kiện phát triển mạnh trong lĩnh vực kinh tế, nhưng trong lĩnh vực xã hội lại xuất hiện xung đột giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội diễn ra quyết liệt, Trang 9

Trang 10

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học tiêu biểu là cuộc chiến trên chính giữa trường phái “Bảo hoàng” và phái “Nghị viện”. Trong hoàn cảnh ấy đã xuất hiện những nhà tư tưởng lý luận tiên phong có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, tiêu biểu trong số đó là Giê-Rắc-dơ-uyn Xten-li. Trong các tác phẩm của mình, ông đã luận chứng cho các yêu sách của phái “Đào đất” mà ông là một lãnh tụ của phong trào này, tư tưởng cơ bản toát lên từ những yêu sách đó là bình đẳng về mọi phương diện, cả trong kinh tế - xã hội. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là cuốn “luật tự do”, có thể coi là cương lĩnh cải tạo triệt để xã hội bằng cách thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, xây dựng chế độ cộng hoà, trong đó ruộng đất và sản phẩm lao động làm ra là tài sản chung của toàn xã hội. - Thế kỷ XVIII: + Giăng Mêliê (Jean Meslier 1664-1729) Người Pháp. Khi còn nhỏ gia đình cho học trường dòng, ông nổi tiếng thông minh, năm 23 tuổi được phong mục sư, tính giản dị gần gũi với nông dân nên ông rất hiểu được nổi khổ của họ, có lần ông bị giáo hội quở phạt vì đã cùng với nông dân chống lại một chúa đất trong vùng vì thu tô thuế quá cao. Nhưng có lẽ tư tưởng của ông được bộc lộ rõ nhất trong tác phẩm “Những di chúc của tôi”. Ông viết: “Tất cả chúng ta đều có một nguồn gốc không có ai sinh ra đã là quý bà quý ông, thiên nhiên sinh ra chúng ta với tính cách là người tương thân tương ái vì thiên nhiên sinh ra chúng ta cùng bản chất và cùng mục đích”. Ông kịch liệt phê phán xã hội đương thời là xã hội quá nhiều kẻ ăn bám sống trên lưng người khác. Muốn cho xã hội lành mạnh trước hết phải xoá bỏ bọn ăn bám có hại như là chủ trang trại, nhân viên thu thuế cho đến vua chúa. Quan điểm giải phóng người lao động khỏi sự áp bức, bóc lột của ông không phải bằng đạo đức mà phải bằng bạo lực cách mạng, không thoả hiệp ( lời báo trước của cách mạng Pháp năm 1789). Ngoài ra ông còn đưa ra luận điểm: “Hỡi các dân tộc hãy liên hiệp lại nếu các người muốn tự cứu mình thoát khỏi cảnh khốn cùng” ông mong muốn xây dựng một xã hội của cải là của chung, mọi người đều đựơc hưởng thụ, như vậy sẽ không có trộm cắp, bất hạnh, giết người, dối trá. Về tôn giáo ông viết: “Tôi đã đau khổ biết bao nhiêu khi tôi truyền bá đến bà con những lời dối trá, bỉ ổi mà thâm tâm tôi ghét cay ghét đắng, sự hồn nhiên của bà con khiến tôi hối hận biết chừng nào”. + Phrăngxoa Môrenly ( Francois Morelly) Người Pháp. Người ta không biết rõ năm sinh và năm mất của ông ( chỉ biết là ông sống vào TK XVIII) trong các tác phẩm, đáng chú ý nhất là tác phẩm “ Bộ luật tự nhiên” nội dung của tác phẩm nói lên mọi xấu xa trong xã hội đều do chế độ tư hữu gây ra, trên cơ sở đó ông đã lên án chế độ đương thời là dối trá, bất công, tàn bạo, thiếu sự hiểu biết, không có học thức và đạo đức, do đó cần phải Trang 10

Trang 11

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học thay đổi luật lệ bằng bộ luật tự nhiên mới tốt hơn, trên cơ sở đó để phân chia lại ruộng đất quy hoạch lại thành phố, nghiêm cấm tiêu xài hoang phí xa xỉ tốn kém tiền bạc của nhân dân. + Giắccơ Babớp ( Gracchur Babeuf 1760-1797) Người Pháp. Xuất thân là công nhân. Ông là người tích cực tham gia vào phong trào cách mạng tư sản phá ngục Bat-xti nhưng do có nhiều vấn đề không đồng ý với Ban lãnh đạo nên đã bị bắt. Sau khi được thả ông lại lao vào hoạt động chính trị và tổ chức câu lạc bộ Păng-tê-ông, bề ngoài là nơi gặp gỡ bạn bè, nhưng bên trong ngấm ngầm chuẩn bị khởi nghĩa. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của những người bình dân” ông đã đề cập đến các đối tượng tham gia khởi nghĩa như là công nhân, binh lính ( có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử cận đại có tư tưởng chú ý đến phong trào công nhân và khởi nghĩa vũ trang). Để chuẩn bị cho khởi nghĩa ông đã nêu ra các bước: Bước 1: các lò bánh mì phải cung cấp đủ cho quân khởi nghĩa. Bước 2: tịch thu tất cả tài sản của bọn nhà giàu để chia cho dân nghèo. Bước 3: xoá nợ, trả lại các vật cầm cố, phân chia đều lại ruộng đất. Bước 4: chiếm các kho bạc để phát cho mọi người. Bước 5: tịch thu tài sản của kẻ chạy trốn và bọn phản động. Biện pháp cuối cùng là tổ chức lại đời sống xã hội để bảo đảm xã hội phát triển nhằm tiêu diệt nghèo đói, thất nghiệp và các tệ nạn khác. Nhưng rất tiếc kế hoạch chưa được thực hiện thì bị một tên chỉ điểm tố giác ông bị bắt, kết án tử hình. Song những tư tưởng của ông là một bài học cho các cuộc cách mạng. 3.2. Chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán đầu TK XIX + Prăngxoa Mari Sáclơ Phurie, người Pháp ( Charles Fourier 1772-1837), xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp tiểu thương, buôn bán nhỏ, đã từng làm các công việc như kê toán, văn thư, người chào hàng, theo dõi thị trường chứng khoán nên ông hiểu rất rõ bản chất của giai cấp tư sản. Kiến thức của ông chủ yếu là tự học, ngoài ra còn tự học âm nhạc, hội hoạ. Trong các tác phẩm như “Thế giới kinh tế mới hay là phương thức hành động xã hội chủ nghĩa hợp với tự nhiên”, “Lý thuyết về ba giai đoạn phát triển và sự phát triển chung”, tư tưởng nổi bật nhất trong các tác phẩm vẫn là phê phán xã hội tư sản là một xã hội mà người lao động được hưởng quá ít còn kẻ ăn bám thì được hưởng quá nhiều. Đó là một xã hội sự nghèo khổ được sinh ra từ sự thừa thải. Ngoài ra ông còn phê phán chế độ cạnh tranh dẫn đến nạn thất nghiệp. Đạo đức trong xã hội tư bản là dối trá, nhưng được che đậy bằng chiếc mặt nạ bình đẳng, bác ái, đằng sau bộ mặt ấy là tiền trao cháo múc lạnh lùng. Ông là người đã phác hoạ bức tranh về sự phát triển của xã hội loài người. Từ giai đoạn dã man – gia trưởng – văn minh, còn trong một đời Trang 11

Trang 12

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học người: thơ ấu - thanh niên - trưởng thành - tuổi già, và coi “Trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ giải phóng chung của xã hội”. + Cơlôđơ Hăngri Đơ Xanh Ximông (Claude Henri De Saint Simon 1760-1825): xuất thân trong một gia đình là quý tộc Pháp lâu đời, 17 tuổi tham gia quân đội, đã từng tham gia chiến tranh ở Mỹ. Năm 1783 trở về Pháp với cấp hàm đại tá và sau đó ông đi chu du nhiều nước. Cách mạng Pháp bùng nổ ông trở về nước truyền bá tư tưởng tự do. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó có phát hiện mới về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Ông cho rằng cuộc cách mạng tư sản ở Pháp năm 1789 mạng tính chất nửa vời, thiếu triệt để và không vì lợi ích của nhân dân lao động, ( cuộc cách mạng tư sản Pháp không chỉ là cuộc đấu tranh giữa quý tộc và giai cấp tư sản mà còn là cuộc đấu tranh giữa một bên là những người không có của và một bên là những người có của và tai họa là ở chỗ lại đưa giai cấp trung gian là giai cấp tư sản lên nắm chính quyền), theo ông cần có một cuộc cách mạng mới, một cuộc “tổng cách mạng”. Để thực hiện cuộc cách mạng mới đó, ông chủ trương phải bằng “con đường bình yên chung”. Ông là người viết nhiều tác phẩm đề cập nhiều nội dung có tính chất xã hội chủ nghĩa, luận giải cho lý thuyết về giai cấp và xung đột giai cấp. Mặc dù ông chưa thể phân định chính xác về nguồn gốc cũng như bản chất kinh tế - xã hội của các giai cấp nhưng đây là một đóng góp mới của ông đối với kho tàng tri thức nhân loại về xã hội nói chung, về tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói riêng. Ông tự tuyên bố là người phát ngôn của giai câp cần lao và giải phóng giai cấp là mục đích cuối cùng của cuộc đời, song quan niệm của ông về chế độ sở hữu của xã hội tương lai lại chứa đựng mâu thuẫn. Một mặt, ông cho rằng, trong xã hội ấy, chế độ sở hữu phải được tổ chức sao cho có lợi nhất cho toàn xã hội. Nhưng mặt khác, ông lại không chủ trương xoá bỏ chế độ tư hữu, mà chỉ cố gắng xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo một cách quá đáng, thông qua và bằng cách thực hiện chế độ tư hữu một cách phổ biến. + Rôbớc Ôuen: (Robert Owen 1771-1858) sinh ra trong một gia đình thợ thủ công ở nước Anh, 9 tuổi đã phải đi làm thuê. Năm 20 tuổi kết hôn với con gái một nhà công nghiệp ở Niu-la-nác và được bổ nhiệm làm giám đốc nhà máy có khoảng 1500 công nhân, phải sống trong những túp lều chen chúc quanh nhà máy, đó là những thợ thủ công bị khánh kiệt, nông dân không có ruộng đất, tù khổ sai mãn hạn thường xuyên say rượu, đánh nhau. Để cải thiện tình cảnh của người lao động, ông đã từng bước cải tổ quy trình sản xuất, tổ chức đời sống như xây dựng nhà ở cho công nhân, nhà trẻ, nhà mẫu giáo, bệnh viện, mỗi ngày làm việc 10 tiếng rưỡi (ở Anh thời đó lao động từ 12-14 giờ). Năm 1824 ông sang Mỹ (bang Indiana) dùng toàn bộ tài sản của mình mua đất để thành lập công xã lấy tên là “Lao động hoà hợp mới”. Nhưng ít lâu sau, tất cả những đất đai đều bị chiếm đoạt, tài sản không còn, ông lại trở về nước Anh tiếp tục hoạt động Trang 12

Trang 13

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào công đoàn. Mô hình chủ nghĩa cộng sản của ông thất bại nhưng nó đã để lại một tư tưởng nhân đạo về giải phóng con người. Tóm lại: Quá trình phát triển các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX gắn liền với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới hình thành và bắt đầu phát triển. Trong quá trình phát triển tính chất văn chương (văn học) của các trào lưu xã hội chủ nghĩa không tưởng ngày càng giảm, tính lý luận ngày càng tăng và tính phê phán ngày càng sâu sắc và đạt đỉnh cao ở thế kỷ XIX. Tư tưởng của hầu hết các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đều muốn xoá bỏ chế độ tư hữu, mơ ước một xã hội tương lai mà quyền sở hữu tư liệu sản xuất thuộc về xã hội, mọi người đều lao động, thành quả lao động được phân phối công bằng. 4. Giá trị và hạn chế lịch sử của chủ nghĩa xã hội không tưởng 4.1. Những giá trị - Hầu hết các quan niệm, các luận điểm của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đều chứa đựng một tinh thần nhân đạo cao cả khát vọng giải phóng con người khỏi tình trạng bị áp bức, bóc lột, mọi người đều sống bình đẳng với nhau. Nhưng những tư tưởng nhân đạo ấy chưa chỉ ra được con đường và lực lượng xã hội, cũng như điều kiện và phương thức để thực hiện ước mơ đó. Vì vậy, các nhà tư tưởng ở thời kỳ này được gọi là chủ nghĩa xã hội không tưởng. Tuy nhiên, nhiều giá trị, luận điểm của chủ nghĩa xã hội không tưởng là cơ sở để Mác và Ăngghen kế thừa sau này. - Với các mức độ và trình độ khác nhau, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng trong suốt các thời kỳ từ thế kỷ thứ XVI - XVIII đều phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa một cách gay gắt. Chính vì thế, tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ này được gọi là “chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán” dùng để chỉ các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước khi có chủ nghĩa xã hội khoa học. - Nhiều luận điểm, quan điểm, nhiều khái niệm,... phản ánh ở mức độ khác nhau các giá trị xã hội chủ nghĩa của những phong trào hiện thực, đã thực sự làm phong phú thêm cho kho tàng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị những tiền đề lý luận cho sự kế thừa, phát triển tư tưởng chủ nghĩa xã hội lên một trình độ mới. - Không chỉ là những tư tưởng đơn thuần, một số người đã xả thân, lăn lộn hoạt động trong phong trào thức tỉnh phong trào công nhân và người lao động, để từ đó mà quan sát phát hiện những giá trị tư tưởng mới, chứ không phải là nghĩ ra từ đầu óc. 4.2. Những hạn chế và những nguyên nhân: - Các nhà không tưởng đầu thế kỷ XIX không thể thoát khỏi quan niệm duy tâm về lịch sử. Họ cho rằng, chân lý vĩnh cửu đã có, đã tồn tại ở đâu đó, chỉ cần có con người tài Trang 13

Trang 14

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học ba xuất chúng là có thể phát hiện ra, có thể tìm thấy. Khi đã tìm thấy, chỉ cần những người đó thuyết phục toàn xã hội là xây dựng được xã hội mới. - Hầu hết các nhà không tưởng đều có khuynh hướng đi theo con đường ôn hoà để cải tạo xã hội bằng pháp luật và thực nghiệm xã hội. Một số ít khác thì chủ trương khởi nghĩa nhưng chưa có sự chuẩn bị. Dù chủ trương bằng con đường nào, các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác đều đã không chỉ ra được con đường cách mạng nhằm thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội mới. Bởi các ông đã không thể giải thích được bản chất của chế độ nô lệ làm thuê tư bản, không thể phát hiện ra những quy luật nội tại chi phối con đường, cách thức cho những chuyển biến tiếp theo của xã hội. - Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong các thời kỳ đã không thể phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Lực lượng ấy là giai cấp công nhân. - Những hạn chế nêu trên có tính lịch sử là điều không thể tránh khỏi. Nhưng những gì mà các ông để lại thực sự là một đóng góp vô giá vào kho tàng tư tưởng xã hội chủ nghĩa. III. SỰ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 1. Những điều kiện và tiền đề khách quan 1.1. Điều kiện kinh tế xã hội: những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, cùng với sự ra đời của các khu công nghiệp lớn, giai cấp công nhân cũng có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và chất lượng. Đây là lực lượng quan trọng làm nên sự giàu có trong xã hội tư bản, nhưng lại không có tư liệu sản xuất, nên phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức bóc lột của giai cấp tư sản có tính khởi nghĩa, có tổ chức trên quy mô rộng khắp, tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Ly Ông (Pháp) năm 1831 và năm 1834, phong trào Hiến chương ở nước Anh kéo dài 10 năm, cuộc đấu tranh của công nhân ở Xi Lê Di năm 1934. Trong điều kiện ấy phải có lý luận tiên phong dẫn đường. 1.2.Tiền đề văn hoá và tư tưởng: - Về khoa học tự nhiên: + Một là, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của các nhà khoa học: Mayer, Helmholt (Hem-hôn), Faraday, Joule (Jun), Lence (Lenxơ). + Hai là, thuyết tế bào của Scheiden (Sâyđin) và Schwan (Swannơ). Trang 14

Trang 15

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học + Ba là, thuyết tiến hoá của Darwin (Đác uyn) người Anh - Về khoa học xã hội: nổi bật nhất là dòng triết học cổ điển Đức như Hegel và Feuerbach (Phơbách); kinh tế chính trị học cổ điển của A.Smith và của D.Ricardo, chủ nghiã xã hội không tưởng phê phán của H.Saintsimon (xanh xi mông), Ch.Fourier (Phu Ri ê) và R.Owen (Ô-Oen). Những giá trị khoa học, những cống hiến mà các ông để lại đã tạo ra các tiền đề cho các nhà tư tưởng, các nhà khoa học thế hệ sau kế thừa. 2. Vai trò của Các Mác và Ăngghen 2.1. Các Mác (Karl Marx): sinh ngày 5 – 5 - 1818 tại thành phố Trier (Tơ-re-vơ) tỉnh Ranh thuộc Đông Đức, cha là luật sư gốc người Do Thái, mẹ gốc người Hà Lan, năm 23 tuổi nhận bằng tiến sĩ triết học. Tháng 10/1843 Mác sang Pari là nơi có đầy đủ điều kiện để ông trực tiếp nghiên cứu phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, chủ nghĩa xã hội không tưởng và triết học duy vật Pháp, có thể coi đây là bước ngoặt căn bản để Mác chuyển từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật. Tháng 3/1848 cách mạng nổ ra ở Đức, Mác trở về quê hương nhưng đến năm 1849 bị trục xuất khỏi nước Đức, rời nước Đức ông đến Pari, sau đó đến Luân Đôn và bắt tay viết tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Lui-bô-na-pác-tơ” (1851-1882), kinh tế chính trị và bộ tư bản (1859). Ông mất ngày 14/3/1883 được những người lao động nghèo chôn ở nghĩa địa Hai-ghết, nghĩa địa dành cho những người nghèo khó. 2.2. Phri-đơ-rích Ăng-ghen (Friedrich Engels) sinh ngày 28 -11 - 1820 tại thành phố Barmen (Bác Men) nước Đức trong một gia đình tư sản công nghiệp ngành dệt, mất ngày 5/8/1895. Ngay từ nhỏ ông đã say mê nghiên cứu triết học và khoa học tự nhiên. Năm 1841 ông tham gia quân đội và cũng là dịp tham gia vào nhóm Hê-ghen trẻ, cuối năm 1842 ông sang Anh và tham gia vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Năm 1844 ông gặp Các Mác và từ đây tình đồng chí, tình bạn bắt đầu gắn chặt hai con người vĩ đại lại với nhau, chính trong thời kỳ này ông đã từ bỏ lập trường triết học duy tâm để bắt tay vào nghiên cứu triết học duy vật. Ông đã cùng Các Mác gia nhập liên đoàn những người cộng sản. Năm1848-1849 ông tham gia khởi nghĩa ở Ba Đen, khởi nghĩa thất bại, ông bị bắt và bị cầm tù ở Bru-xen, vượt ngục ông trốn sang Thụy Sỹ, rồi sang Anh. Từ năm 1870-1895 ông sống ở Luân Đôn, cùng với Mác lãnh đạo quốc tế cộng sản, thời gian này ông viết tác phẩm luận chiến nổi tiếng: “Chống Đuy Rinh”, tác phẩm có tác dụng chống lại các trào lưu tư tưởng thù địch với chủ nghĩa Mác. Sau khi Mác mất ông đã viết tiếp và cho xuất bản cuốn II-III bộ tư bản nhưng chỉ đề tên Mác. Tóm lại: Mác và Ăng-ghen đều sinh ra ở một quốc gia có nền triết học phát triển. Bằng trí tuệ uyên bác, các ông đã tiếp thu với một tinh thần phê phán, chọn lọc, kế thừa Trang 15

Trang 16

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học để từng bước xây dựng học thuyết của mình với hai phát hiện vĩ đại: học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó làm cho chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học. III. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 1. Giai đoạn Mác và Ăngghen (1844-1895) Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” do C.Mác - Ph. Ăngghen viết chung, xuất bản lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1848 là cơ sở đặt nền tảng đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học, và sau “tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, qua tổng kết kinh nghiệm các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp và Đức trong khoảng thời gian từ 1848 -1852. Qua theo dõi, chỉ đạo và tổng kết bài học kinh nghiệm của công xã Pari (1871) C.Mác – Ph. Ăngghen đã kết luận: để giành được quyền thống trị về chính trị, giai cấp công nhân phải đập tan bộ máy Nhà nước quan liêu của giai cấp tư sản, thiết lập nền chuyên chính vô sản, đồng thời phải liên minh được với các tầng lớp lao động khác tạo thành động lực căn bản của cách mạng, phải giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp, phải xác định thời kỳ quá độ, thời kỳ chuyên chính là một quá trình lâu dài. 2. Lênin phát triển, vận dụng trong hoàn cảnh lịch sử mới . V.I.Lênin 1870 -1924 (Vladimir Ilich Ulyanov Lenine), là người kế tục sự nghiệp của Mác và Ăngghen. Những đóng góp của Lênin có thể được chia thành hai thời kỳ cơ bản 2.1. Thời kỳ trước Cách Mạng Tháng Mười Nga: Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phân tích và tổng kết một cách nghiêm túc các sự kiện lịch sử diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội của hoàn cảnh lịch sử mới, V.I.Lênin phát hiện và trình bày một cách có hệ thống những khái niệm phạm trù khoa học phản ánh những quy luật, những thuộc tính bản chất chi phối sự vận động biến đổi của đời sống xã hội trong quá trình chuyển biến tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đó là các tri thức về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, về các nguyên tắc tổ chức, cương lĩnh, sách lược trong nội dung hoạt động của Đảng; về cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản, cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và các điều kiện tất yếu cho sự chuyển biến sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; những vấn đề mang tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc và cương lĩnh dân tộc, đoàn kết và liên minh của giai cấp công nhân với nông dân và các tầng lớp lao động khác; những vấn đề về quan hệ quốc tế và chủ nghĩa quốc tế vô sản, quan hệ cách mạng chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc. Trang 16

Trang 17

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học Bên cạnh hoạt động lý luận, V.I.Lênin đã từng bước lãnh đạo Đảng của giai cấp công nhân Nga tập hợp lực lượng đấu tranh chống chế độ chuyên chế Nga Hoàng, tiến tới giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga. 2.2. Thời kỳ sau Cách Mạng Tháng Mười: Sau thắng lợi của Cách Mạng Tháng Mười, do yêu cầu của công cuộc xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin đã tiến hành phân tích làm rõ nội dung, bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bắt tay tổ chức các chính sách kinh tế, xác định chính sách kinh tế mới nhằm sử dụng và học tập các kinh nghiệm tổ chức, quản lý kinh tế của chủ nghĩa tư bản để cải tạo nền kinh tế tiểu nông lạc hậu của nước Nga Xô - viết. Cũng trong thời kỳ này Lênin đã viết nhiều tác phẩm kinh điển, trong đó đã nêu ra và luận giải cho một loạt những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, đấu tranh chống lại mọi trào lưu của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều và bệnh tả khuynh trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. 3. Sự phát triển, vận dụng chủ nghĩa xã hội khoa học sau khi Lênin từ trần - Có thể nêu một cách vắn tắt những nội dung cơ bản sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong hơn 80 năm qua như sau: Mọi thắng lợi của cách mạng thế giới đều là sự vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế ở mỗi nước cũng như của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Trong đó chiến thắng phát xít là tiền đề quan trọng nhất dẫn đến sự tan rã chủ nghĩa thực dân cũ và mới, là sự hình thành và phát triển của hệ thống chủ nghĩa xã hội…. Điều này đã đẩy nhanh tiến trình vận động của quy luật lịch sử nhân loại về phía trước. Cùng với những thành tựu trong hoà bình xây dựng, các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng vào đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Các Đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế đã tổng kết và tiếp tục phát triển bổ sung nhiều nội dung quan trọng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, cả về lý luận lẫn phương hướng, giải pháp xây dựng chế độ xã hội mới ở mỗi nước, góp phần quan trọng vào quá trình vận dụng, phát triển bổ sung và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều này có thể chứng minh nơi này và ở đâu, các Đảng cộng sản nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì ở đó cách mạng phát triển và thu được những thắng lợi. Trong trường hợp ngược lại, cách mạng sẽ lâm vào thoái trào và bị thất bại. Vấn đề đặt ra đối với chủ nghĩa xã hội khoa học là từ trong những thành công và thất bại cần phải nghiêm túc phân tích, khái quát và rút ra những bài học kinh nghiệm, từ đó Trang 17

Trang 18

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học để có những phương thức, biện pháp chủ trương chiến lược và sách lược hợp lý trong hoàn cảnh mới, đồng thời tiếp tục bổ sung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học hoàn thiện phù hợp với tình hình mới. 4. Sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng ta Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo cho thấy, những thắng lợi, những thành tựu của cách mạng luôn gắn liền với quá trình vận dụng sáng tạo, phát triển và hoàn thiện lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học trong những điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại, trên cơ sở thực tiễn Việt Nam. Trong sự nghiệp vĩ đại ấy, sự xuất hiện và những cống hiến vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, cả về lý luận, cách thức, biện pháp và chiến lược sách lược vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang thực sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng ở nước ta trước kia, cũng như trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Những đóng góp, bổ sung và phát triển cũng như sự vận dụng của Đảng ta có thể được tóm tắt như sau: - Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tính quy luật của cách mạng Việt Nam, trong điều kiện thời đại ngày nay. - Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Xây dựng phát triển kinh tế phải đi đôi với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. - Mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của mọi giai cấp và tầng lớp nhân dân, mọi thành phần dân tộc và tôn giáo, mọi công dân Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài, tạo cơ sở xã hội rộng lớn và thống nhất cho sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới. - Tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, khai thác mọi khả năng có thể hợp tác nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. - Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam – nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Khâu then chốt để đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là phải coi trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta rút ra năm bài học kinh nghiệm: Trang 18

Trang 19

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học + Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. + Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, mang tính kế thừa chọn lọc và có những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. + Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. + Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. + Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Trên đây là những bài học kinh nghiệm được khái quát từ thực tiễn đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là sự vận dụng sinh động những nguyên lý, những quy luật được đúc kết trong hoàn cảnh cụ thể của thời đại ngày nay. CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG II Câu hỏi ôn tập: 1. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là gì? Tư tưởng cộng sản chủ nghĩa là gì? Chúng ra đời khi nào? Sự khác nhau giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa 2. Chủ nghiã xã hội không tưởng là gì? Khái quát quá trình phát triển của nó? 3. Phân tích những giá trị và những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng? nguyên nhân những hạn chế đó? 4. Phân tích những tiền đề và điều kiện cho sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học? 5. Vai trò của Mác - Ăngghen đối với sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học? 6. Chủ nghĩa xã hội khoa học có quá trình phát triển như thế nào? Câu hỏi thảo luận: 1.Tại sao nói chủ nghĩa xã hội không tưởng là một trong ba tiền đề lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học? 2.Tại sao nói sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội nói riêng vào nửa đầu thế kỷ XIX là một tất yếu? 3. Cống hiến của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học là gì? Trang 19

Trang 20

Bài giảng: chủ nghĩa xã hội khoa học CHƯƠNG IV SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN I. GIAI CẤP CÔNG NHÂN 1. Khái niệm giai cấp công nhân “ Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay. Ở các nước tư bản, giai cấp công nhân là những ngưới không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân là người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu, là giai cấp lãnh đạo xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. 2. Hai thuộc tính của giai cấp công nhân Học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lý luận xuyên suốt của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì vậy, ngay từ khi mới ra đời giai cấp tư sản đã tìm mọi cách để xoá bỏ nó cả về lý luận cũng như trên thực tế, nhưng quyết liệt nhất là sau khi Liên - Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực phản động đã không ngừng lợi dụng đả kích chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Rằng: ở các nước tư bản, giai cấp công nhân không còn bị bóc lột như trước, họ đã được “trung lưu hoá”, giai cấp công nhân đã “biến mất”. Vậy, công nhân là ai? Hiện nay có còn giai cấp công nhân nữa không? Để làm rõ vấn đề này chúng ta phải căn cứ vào luận điểm của Mác và Ăngghen khi nói về giai cấp công nhân. Công nhân có hai thuộc tính sau đây: Trang 20

Hiển thị 20 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!