Trang 2
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập Câu hỏi ôn tập - Triết học Mac Lenin Học kỳ 2022.2 Lưu ý: Trình bày thành đoạn văn nhỏ. Tài liệu chỉ sử dụng với mục đích ôn tập, sử dụng vào mục đích khác, CLB không chịu trách nhiệm. I. Bộ câu hỏi 6 điểm Câu 1 Vấn đề cơ bản của triết học là gì? Phân tích nội dung vấn đề cơ bản của triết học? • Theo Ăngghen: "Vấn đề cơ bản của triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại." Như vậy, vấn đề cơ bản của triết học: là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, vật chất và ý thức hay tự nhiên và tinh thần. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học vì: – Đây là vấn đề rộng nhất, chung nhất. Đóng vai trò là nền tảng, định hướng để giải quyết các vấn đề khác. – Các trường phái triết học đều trực tiếp/ gián tiếp đi vào giải thích về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay giữa vật chất và ý thức trước khi đi vào quyết định củamình. – Việc quyết định mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là cơ sở xuất phát cho các quyết định triết học nảy sinh. – Việc quyết định vấn đề cơ bản của triết học là tính chất khách quan khoa học để xác định lập trường tư tưởng triết học của các nhà triết học trong lịchsử. • Vấn đề cơ bản trả lời cho 2 câu hỏi lớn. Trả lời 2 câu hỏi này xác định lập trường của nhà triết học và hình thành các trường phái triết học – Mặt thứ nhất với câu hỏi: Vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào (mặt bản thể luận) Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất có trước, sinh ra và quyết định ý thức con người,không thừa nhận sự giáng thế của các lực lượng siêu nhiên, là thế giới quan của giai cấp bị trị và các lực lượng tiến bộ, liên hệ mật thiết với KHTN. CNDV xuất hiện dưới các hình thức: * CNDV chất phác cổ đại đồng nhất vật chất với một hay một số chất.Quan niệm về thế giới mang tính trực quan, cảm tính, chất phác nhưng đã lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích thế giới * CNDV siêu hình: Quan niệm thế giới như một cỗ máy khổng lồ, các bộ phận tồn tại biệt 1
Trang 4
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập lập, tĩnh tại. Tuy còn hạn chế về phương pháp luận siêu hình, máy móc nhưng đã chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo giải thích về thế giới. * CNDV biện chứng do Mác-Anghen xây dựng vào thế kỉ 19 và được Lênin phát triển khẳng định vạn vật có mối liên hệ phổ biến, luôn luôn vận động và phát triển. CNDVBC đã khắc phục hạn chế của CNDV trước đó, phản ánh đúng hiện thực và trở thành công cụ hữu hiệu để nhận thức và cải tạo thế giới Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, quyết định vật chất: là thế giới quan của giai cấp thống trị và các lực lượng phản động, liên hệ mật thiết với thế giới quan tôn giáo, chống lại KHTN và CNDV. * CNDT khách quan: Ý thức khách quan tồn tại trước và quyết định vậtchất * CNDT chủ quan: ý thức cá nhân có trước và quyết định vật chất phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, công nhận sự sáng tạo ra nó bằng một lực lượng tinh thần Bên cạnh đó còn có Nhị nguyên luận: giải thích thế giới bằng cả hai bản nguyên vật chất và tinh thần, xem vật chất và tinh thần là hai bản nguyên có thể cùng quyết định nguồn gốc và sự vận động của thế giới. Song, xét cho cùng chủ nghĩa nhị nguyên thuộc chủ nghĩa duy tâm. – Mặt thứ hai với câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? (mặt nhận thức luận) * Thuyết khảtri: Con người có khả năng nhận thức được thếgiới. Vềnguyên tắc, con người có thể hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng + Duy vật: thế giới vật chất quyết định nhận thức, ý thức con người, đỉnh cao là CNDV biện chứng + Duy tâm: ý thức, nhận thức là sự tự phản ánh, phủ nhận cội nguồn vật chất của ý thức Duy tâm tuy sai nhưng vẫn có cơ sở hiện thực để tồn tại và phát triển, giải thích một số hiện tượng đơn lẻ hay duy vật không giải thích được * Thuyết bất khả tri: Phủ nhận khả năng nhận thức của con người. Về nguyên tắc, con người không thể hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng mà chỉ hiểu được những cái thế giới biểu hiện ra. * Thuyết hoài nghi: nghi ngờ tri thức đã đạt được, con người không thể đạt tới chân lí khách quan 3
Trang 5
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập Câu 2 Tại sao nói triết học Mác ra đời là một tất yếu lịch sử? • Điều kinh tế - xã hội: – Sự củng cố và phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp. – Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tư cách một lực lượng chính trị - xã hội độc lập là nhân tố chính trị - xã hội quan trọng cho sự ra đời triết họcMác. – Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác. • Tiền đề lý luận: Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm cao của trí tuệ nhân loại, C.Mácvà Ăng-ghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhânloại: – Triết học cổ điển Đức: Mác thừa kế phép biện chứng của Heghen trên cơ sở có lọc bỏ các yếu tố duy tâm thần bí để xây dựng phép biện chứng duy vật, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật tiến bộ của Phobach. – Kinh tế-chính trị cổ điển Anh. Mác Thừa Kế các quan điểm kinh tế tiến bộ, đặc biệt là học thuyết về giá trị của A.Smith và David Ricardo để làm cơ sở xây dựng kinh tế chính trị cho học thuyết. – Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh: Trang bị cho Mác và Ăng ghen những tư liệu chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó Mác và Ăng ghen đã biến chủ nghĩa xã hội không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học • Tiền đề khoa học tự nhiên: – Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng là cơ sở để khẳng định các dạng tồn tại của vật chất trong thế giới có mối liên hệ với nhau, và trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau. – Học thuyết tế bào: là cơ sở chứng minh rằng giữa thế giới động vật và thực vật có mối liên hệ với nhau, có chung nguồn gốc và hình thái. – Học thuyết tiến hóa của Đác-uyn: là cơ sở chứng minh rằng giữa các loài không phải bất biến mà có mối liên hệ và giàng buộc lẫn nhau. Với những phát minh khoa học đó, khoa học đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những dạng tồn tại khác nhau, các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới, vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển của thế giới, là cơ sở khoa học tự nhiên, giúp Mác xây dựng học thuyết của mình. 4
Trang 6
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập • Bên cạnh đó còn phải nhắc tới nhân tố chủ quan: Đó là sự nhiệt huyết, tài giỏi, sự hoạt động không biết mệt mỏi của C.Mác và Ăng-ghen, lập trường giai cấp công nhân và tình cảm đắc biệt của hai ông đối với giai cấp nhân dân lao động, hòa quyện với tình bạn vĩ đại của hai nhà cách mạng đã kết tinh thành nhân tố chủ quan cho sự ra đời triết họcMác. Kết luận: Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác đã ra đời như một điều tất yếu của lịch sử không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đòi hỏi cólýluậnmới soi đườngmàcòn vì nhữngtiền đề cho sự ra đờilí luận mới đãđược nhân loại tạo ra. Câu 3 Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa khoa học của định nghĩa? • Các quan điểm trước Mác về vật chất: – Thời cổ đại: đây là thời khoa học kỹ thuật chưa phát triển, nhận thức con người còn hạn chế, cho nên các nhà triết học nhận thức về thế giới 1 cách trực quan cảm tính. Họ đồng nhất vật chất với nước, lửa, không khí,‘nguyên tử’. – Vào thế kỉ 17,18: Đây là thời kì cơ học cổ điển của newton thịnh hành phát triển, các nhà triết học đề cao vai trò của khối lượng, nên họ đồng nhất vật chất với khốilượng. • Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa: Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX với những phát minh mới trong khoa học tự nhiên, con người có những hiểu biết sâu sắc hơn về nguyêntử: – 1895: Roetgen phát hiện ra tia X. – 1896: Becquerel tìm ra hiện tượng phóng xạ. – 1897: Thomson tìm ra điện từ và nguyên tử. – 1905: Thuyết tương đối hẹp và năm 1916 là thuyết tương đối rộng của Einstein đã chứng mình: không gian, thời gian, khối lượng luôn biến đổi cùng sự vận động của vật chất Cuộc khủng hoảng thế giới quan trong lĩnh vực vật lí học cũng như triết học. Chủ nghĩa duy tâm xuyên tạc rằng vật chất bị tiêu tan chỉ còn ý thức, duy vật mất đi chỉ còn duy tâm. Triết học duy vật lúc này cần phải đưa ra được một quan niệm đúng đắn, khoa học về phạm trù vật chất. • Định nghĩa vật chất của Lênin: “Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.” • Phân tích định nghĩa: – Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức. Khi nói vật chất là một phạm trù triết học, tức muốn nói phạm trù này là 5
Trang 7
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập sản phẩm của sự trừu tượng hóa, không có sự tồn tại cảm tính. Lênin nhấn mạnh rằng, phạm trù triết học này dùng để chỉ cái “ Đặc tính duy nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này – là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta”. – Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác. Trái với quan niệm “khách quan” mang tính chất duy tâm về sự tồn tại của vật chất, Lênin khẳng định rằng, vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của các sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của minh dưới dạng các thực thể. Các thực thể này, do những đặc tính bản thể luận vốn có của nó, khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ đem lại cho con người những cảm giác. – Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh củanó. Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Trong thế giới ấy, theo quy luật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện tượng – hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần. Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần; còn các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức, v.v.) lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung của chúng) chẳng qua chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tư cách hiện thực khácquan. • Ý nghĩa của định nghĩa: – Định nghĩa vật chất của Lênin giải quyết triệt để 2 mặt trong vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng. – Định nghĩa vật chất của Lênin khắc phục được hạn chế sai lầm trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật siêu hình. – Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở khoa học cho việc xác định và xây dựng vật chất trong lĩnh vực đời sống xã hội Câu 4 Tại sao vận động là phương thức tồn tại của vật chất? • Quan điểm CNDVSH về vận động: Coi nguồn gốc của vận động nằm ở bên ngoài, tách rời sự vật. Các nhà triết học duy vật siêu hình đã quy mọi sự vận động thành một hình thức duy nhất là vận động cơ học. Họ coi hoạt động của giới tự nhiên và của cả con người không gì khác hơn là hoạt động của một cỗ máy. Việc quy hình thức vận động phức tạp thành hình thức vận động đơn giản được gọi là chủ nghĩa cơ giới. Ngoài 6
Trang 8
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập ra còn có sự biến tướng khác (Chủ nghĩa Đác-uyn xã hội), coi vận động xã hội như vận động sinh học, coi con người như là một sinh vậtthuần túy. Những quan niệm sai lầm này là nguyên nhân dẫn đế bế tắc trong việc lý giải những biến đổi của thế giới sinh vật và xã hội. • Quan điểm CNDVBC về vận động: – Định nghĩa : Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động theo nghĩa chung nhất là mọi sự biến đổi nói chung. Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”. – Bản chất vận động: * Vận động là phương thức tồn tại của vật chất vì vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động, vật chất biểu hiện sự tồn tại của nó với các hình dạng phong phú, muôn vẻ, vô tận. * Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất. Không ở đâu và ở nơi nào lại có thể có vật chất không vận động. Sự tồn tại của vật chất là tồn tại bằng cách vậnđộng. * Vận động là một thuộc tính cố hữu và là phương thức tồn tại của vật chất, do đó, nó tồn tại vĩnh viễn, không thể tạo ra và không bị tiêu diệt. – Các hình thức vận động của vật chất: * Vận động cơ học: là sự dịch chuyển vị trí của các vật thể trong khônggian. * Vận động vật lý: là các quá trình quang, nhiệt, điện, sự vận động của các điện tử, nguyên tử,... * Vận động hóa học: là quá trình phân tích tổng hợp của cách chất vô cơ, hữucơ. * Vận động sinh học: là quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống và môitrường. * Vận động xã hội: là quá trình biến đổi các mặt của xã hội, sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội. Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất, về trình độ của sự vận động nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau: Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác nhau. Tuy nhiên bản thân sự tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản. – Bên cạnh đó có một trạng thái đặc biệt của vận động là Đứngim 7
Trang 9
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập * Khái niệm: là trạng thái ổn định về chất của sự vật, hiện tượng trong những mối quan hệ và điều kiện cụ thể, là hình thức biểu hiện sự tồn tại thực sự của các sự vật, hiện tượng và là điều kiện cho sự vận động chuyển hóa của vật chất. * Đứng im chỉ có tính tạm thời, chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định, chứ không phải trong mọi mối quan hệ cùng lúc. Chỉ xảy ra đối với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thái vận động trong cùng mộtlúc. * Đứng im chỉ là sự biểu hiện của một trạng thái vận động, là một dạng của vận động mà trong đó, sự vật chưa thay đổi căn bản về chất, nó còn là nó mà chưa chuyển hóa thành cái khác. * Không có đứng im thì không có sự ổn định của sự vật và con người cũng không bao giờ nhận thức được chúng. Không có đứng im, sv, ht cũng không thể thực hiện sự vận động chuyển hóa tiếp theo. Như vậy, vận động và đứng im tạo nên sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập trong sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mọi sự vật hiện tượng nhưng vận động là tuyệt đối còn đứng im là tương đối. Câu 5 Phân tích quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của ý thức? • Nguồn gốc của tự nhiên: –Bộ não người và ý thức: ý thức là thuộc tính của 1 dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ não người. Bộ não người có cấu trúc đặc biệt phát triển, rất tin vi và phức tạp. Bộ não là khí quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng phản ánh của não người. –Phản ánh: là thuộc tính chung với mọi dạng vật chất, phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của 1 hệ thống vật chất này lên hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng, có 3 hình thức phản ánh: +Phản ánh vật lý,hóa học là trình độ phản ánh mang tính thụ động, chưa có sự định hướng, lựa chọn, đặc trưng cho các dạng vật chất vô sinh. Ví dụ: dấu chân in lên cát, soi gương, viết bảng,... +Phản ánh sinh học đặc trưng cho các dạng vật chất hữu sinh, được thể hiện thông qua 3 trình độ cơ bản: tính kích thích, tính cảm ứng và tính tâm lý. Ví dụ: tính kích thích: hướng sáng. Tính cảm ứng là con hải quỳ. Tính tâm lí: ở động vật có hệ thần kinh trung ương. +Phản ánh ý thức: hình thức đặc trưng riêng chỉ có ở con người, ý thức là 1 sự phản ánh 8
Trang 10
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập của 1 dạng vật chất có tổ chức cao vào trong bộ não con người. Ý thức phản ánh thế giới vật chất vào bộ não người 1 cách năng động, sáng tạo. Ví dụ: phản xạ có điều kiện ở người. ⇒ Do đó, bộ não người, cùng với thế giới bên ngoài tác động của bộ não người, đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. • Nguồn gốc xã hội: –Vai trò của lao động đối với việc hình thành ý thức: +Lao động đã giải phóng con người khỏi thế giới động vật, mặt khác, cũng giúp con người có khả năng sáng tạo ra công cụ lao động và sử dụng những công cụ ấy phục vụ mục đích sống của mình. +Lao động đã giúp con người tìm ra lửa và nấu chín thức ăn, giúp cho bộ não con người ngày càng phát triển và hoàn thiện về mặt sinh học. +Nhờ lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm mà dựa vào đó, con người có thể nhận thức được tốt hơn. +Lao động dẫn tới sự hình thành ngôn ngữ. Ngôn ngữ một mặt là kết quả của lao động, mặt khác lại là nhân tố tích cực tác động đến quá trình lao động và phát triển ý thức của con người. –Vai trò của ngôn ngữ đối với việc hình thành ý thức: +Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Nó xuất hiện trở thành "vỏ vật chất" của tư duy; là hiện thực trực tiếp của ý thức; là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội – lịch sử. +Ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của ý thức. Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp, vừa đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ ngôn ngữ, con người có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính. +Cũng nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, lưu giữ, kế thừa những tri thức, kinh nghiệm phong phú của xã hội được tích lũy qua các thế hệ, thời kỳ lịch sử. +Ý thức là một hiện tượng có tính xã hội, do đó, không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được. ⇒ Như vậy, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ não của loài vượn người thành bộ não con người và tâm lý động vật thành ý thức con người. 9
Trang 11
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập ⇒ Kết luận: Hoạt động thực tiễn của loài người là nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức. • Bản chất của ý thức: Vềbản chất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khác quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của bộ não conngười. –Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Nội dung mà ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan. Ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan quyết định cả vềhình thức và nội dung, sống nó không còn y nguyên như thế giới khách quan. Theo Mác, ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong bộ não người và được bộ não cải biến đi ở trong đó. –Ý thức là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan bộ não con người. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới, tưởng tượng ra cái không có thực trong thực tế, tiên đoán và dự báo tương lai. . . để quay trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới hiện thực. –Ý thức là 1 hiện thực mang bản chất xã hội: sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, xã hội. Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của bộ não người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội. Câu 6 Phân tích cơ sở lý luận của Nguyên tắc Toàn diện? ĐCSVN đãvận dụng nguyên tắc này như thế nào trong thời kỳ đổi mới? • Câu chốt: Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của Nguyên tắc toàn diện là nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.(MLHPB) • Nội dung: –Khái niệm: +Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối quan hệ ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau. +Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở với mọi sinh vật hiện tượng của thế giới. Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối lập, chất và lượng, khẳng định và phủ định,... Ví dụ: Các sinh vật đều có liên hệ với môi trường sống bởi sự thay đổi của môi trường sống có thể làm thay đổi số lượng sinh vật hoặc sự gia tăng về số lượng của một loài 10
Trang 12
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập sinh vật đều có thể làm thay đổi môi trường sống của chúng. +Ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng khi sự thay đổi của đối tượng này không ảnh hưởng đến các đối tượng khác, không làm chúng thayđổi. Điều này không có nghĩa là một số đối tượng luôn liên hệ, còn những đối tượng khác lại chỉ cô lập. Trong các trường hợp liên hệ xét ở trên vẫn có sự cô lập, cũng như ở các trường hợp cô lập vẫn có mối liên hệ qua lại. Mọi đối tượng đều trong trạng thái vừa cô lập vừa liên hệ với nhau. Chúng liên hệ với nhau ở một số khía cạnh và không liên hệ với nhau ở những khía cạnh khác, trong chúng có cả những biến đổi khiến các đối tượng khác thay đổi, lẫn những biến đổi không làm các đối tượng khác thayđổi. –Tích chất của các mối liên hệ: +Tính khách quan: MLHPB là mối liên hệ vốn có của thế giới, nó tồn tại độc lập với ý thức con người. Vd: Động vật hấp thụ O2 và nhả ra CO2 trong hô hấp còn thực vật hấp thụ CO2 và nhả ra O2 khi quang hợp. +Tính phổ biến: Mối liên hệ diễn ra trong mọi sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội, tư duy, trong các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng. Ví dụ trong tự nhiên thì có mối liên hệ như trên. Còn trong xã hội thì có mối liên hệ giữa cung cầu. +Tính đa dạng, phong phú: Có rất nhiều mối liên hệ. Có mối liên hệ về mặt không gian và mối liên hệ về mặt thời gian; mối liên hệ chung – mối liên hệ riêng; mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp; mối liên hệ tất nhiên – mối liên hệ ngẫu nhiên;... • Ý nghĩa phương pháp luận (Yêu cầu của NTTD): Khi xem xét sự vật, chúng ta phải dựa trên nguyên tắc toàn diện. NTTD đòi hỏi chủ thể nhận thức và thực tiễn phải tuân thủ các yêu cầu sau: –Khi nghiên cứu đối tượng, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các mối liên hệ của chỉnh thể đó. –Chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại. –Cần xem xét đối tượng trong mối liên hệ đối với đối tượng khác và môi trường xung quanh, kể cả các mặt của mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định. –Quan điểm toàn diện đối lập với các quan điểm phiến diện, một chiều, chiết trung, ngụy biện. • Sự vận dụng của Đảng: –Đổi mới toàn diện, nhiều thành tựu ( kể ra nhưng không quá dài dòng) –Xác định khâu then chốt tập trung giải quyết tạo tiền đề cho sự phát triển. –Ví dụ: ĐCSVN đã vận dụng nguyên tắc toàn diện 1 cách đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt trong thời kỳ đổi mới. Thực tiễn khách quan và xu hướng của thế giới đòi hỏi ĐCSVN phải đổi 11
Trang 13
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập mới trên mọi lĩnh vực để phát triển đất nước. Do Đảng ta luôn xác định được khâu then chốt, tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể trong từng khía cạnh nên trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước thời gian vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực: Về kinh tế, liên tiếp từ năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất, bình quân thu nhập đầu người đạt khoảng 2.750 USD/năm. Vềchính trí ngoại giao, Việt Nam gia nhập WTO, thiết lập được 30 đối tác chiến lược ,có quan hệ ngoại giao, kinh tế với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Về y tế đạt tiến bộ lớn, làm chủ nhiều công nghệ, kĩ thuật hiện đại, kiểm soát đc đại dịch COVID-19, . . . Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, công cuộc đổi mới đất nước vẫn còn nhiều tồn tại. Câu 7 Phân tích cơ sở lý luận của Nguyên tắc Phát triển? ĐCSVN đã vận dụng nguyên tắc này như thế nào trong thời kỳ đổi mới? • Nguyên tắc phát triển trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của Nguyên tắc phát triển chính là nội dung nguyên lý về sự phát triển. • Nội dung nguyên lý về sự phát triển: –Khái niệm sự phát triển: Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Tức là sự vận động theo khuynh hướng đi lên của sự vật hiện tượng. –Tính chất cơ bản của sự phát triển: +Tính khách quan: Nguồn gốc phát triển là do mâu thuẫn bên trong sự vật, do đó, phát triển diễn ra khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người. Ví dụ: Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa là khách quan, không phụ thuộc ý thức con người. +Tính phổ biến: sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hôi, tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn của sự vật hiện tượng đó. Ví dụ trong xã hội loài người, chúng ta phát triển từ: Công xã nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và công sản chủ nghĩa. Trong tư duy của con người cũng phát triển xuyên suốt chiều dài của lịch sử,... +Tính kế thừa: Phát triển là quá trình cái mới thay thế cái cũ nhưng không phủ định sạch trơn mà kế thừa và tiếp tục phát triển những mặt tích cực của cái cũ. Ví dụ: trong quá trình phát triển, cây lúa phủ định cây mạ non, hạt thóc là phủ định của cây lúa. Con ếch phát triển từ con nòng nọc nhưng không phủ định hoàn toàn con nòng nọc mà kế thừa lại những đặc điểm sinh lí của nòng nọc,... 12
Trang 14
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập +Tính phong phú, đa dạng của phát triển: Mỗi sự vật cụ thể có quá trình phát triển cụ thể, không giống nhau. Sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian, thời gian khác nhau, vào điều kiện tác động lên sự phát triển đó. Ví dụ: Cùng là sinh viên trong 1 lớp, nhưng sự phát triển của mỗi sinh viên là khác nhau, phụ thuộc vào năng lực, quyết tâm, môi trường xung quanh,... • Ý nghĩa phương pháp luận (Yêu cầu của nguyên tắc phát triển):Muốn nhậnthứcđượcbảnchất, khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng, chúng ta phải dự trên nguyên lýphát triển. Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét đối tượng phải tuân thủ các yêu cầu sau: –Khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng trong sự vận động, phát hiện xu hướng biến đổi của nó để nhận thức nó ở trạng thái hiện tại và dự báo được khuynh hướng phát triển trong tương lai. –Cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của đối tượng trong từng giai đoạn. –Phải sớm phát hiện và ủng hộ cái mới, tạo điều kiện cho nó phát triển, chống quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến. –Phải biết kế thừa các yếu tố tích cực từ cái cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới. • Sự vận dụng của Đảng: –Để phát triển đất nước, Đảng ta đã chủ trương, khuyến khích phát triển tất cả các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển với các ưu đãi về thuế, thuê mặt bằng, hạ tầng... –Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch mục tiêu,. . . phát triển đất nước bền vừng, sáng tạo, trên mọi lĩnh vực ,bao trùm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. –Luôn xem xét vấn đề trên cơ sở sự phát triển, tiên đoán tương lai, khuyến khích tạo điều kiện cho giáo dục, nâng cao trình độ người lao động. –Thành quả đổi mới. (tham khảo câu 6) Câu 8 Phân tích nội dung cơ bản của cặp phạm trù cái chung và cái riêng? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này? • Các khái niệm: –Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng khác. –Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự vật, hiện tượng nhất định. 13
Trang 15
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập –Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác. –Ví dụ: mỗi con người là một cái riêng, những thuộc tính tự nhiên và xã hội khiến cho con người khác vớiđộng vật giữ vai trò là cái chung của tất cả mọi người vớitư cách người, nhưng mặt khác, ở mỗi con người lại có những thuộc tính không lặp lại ở nhau như: cấu tạo gen, nhân cách, năng lực,. . . cụ thể khácnhau. • Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng: cái chung, cái riêng và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan và giữa chúng có mối quan hệ biên chứng. Mối quan hệ đó thể hiện qua các điểm sau: –Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua các cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng. Ví dụ, trên cơ sở khảo sát tình hình hoạt động cụ thể của một số doanh nghiệp có thể rút ra kết luận về tình trạng chung của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. –Thứ 2, cái riêng chỉ tồn tại trong quan hệ với cái chung, không có cái riêng nào tồn tại độc lập, tách rời tuyệt đối cái chung. Ví dụ, không có doanh nghiệp nào tồn tại với tư cách doanh nghiệp mà lại không tuân theo các quy tắc chung của thị trường (ví dụ quy tắc cạnh tranh...). Nếu doanh nghiệp nào đó bất chấp các nguyên tắc chung đó thì nó không thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường. –Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, vì ngoài những điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất. Ví dụ về con người ở trên. –Thứ tư, cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung phản ánh thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại. Do vậy, cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định khuynh hướng tồn tại và phát triển của cái riêng. Ví dụ, khi vận dụng những nguyên lý chung của khoa học vào việc giải quyết mỗi vấn đề riêng cần phải xét đến những điểu kiện lịch sử, cụ thể tạo nên cái đơn nhất (đặc thù) của nó. Cần tránh thái độ chung chung, trừu tượng khi giải quyết mỗi vấn đề riêng. –Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Ví dụ, một sáng kiến khi mới ra đời – nó là cái đơn nhất. Với mục đích nhân rộng sáng kiến đó áp dụng trong thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, có thể thông qua các tổ chức trao đổi, học tập để phổ biến sáng kiến đó thành cái chung, cái phổ biến – khi đó cái đơn nhất đã trở thành cái chung... • Ý nghĩa của phương pháp luận: –Cần áp dụng sáng tạo cái chung vào cái riêng để cải tạo cái riêng. –Khi áp dụng một kinh nghiệm nào đó, cần rút ra những mặt thích hợp với điều kiện áp dụng, không áp dụng máy móc. 14
Trang 16
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập –Trong hoạt động thực tiễn, cần tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người và trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất. Ví dụ: Những tri thức khoa học đúng đắn, những kinh nghiệm hữu ích cần được phổ biến rộng rãi, lan truyền để khiến nhân loại ngày một tiến bộ. Những phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan dần bị loại bỏ, thu hẹp sức ảnh hưởng. Câu 9 Phân tích nội dung cơ bản của cặp phạm trù Nguyên nhân và Kết quả? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này? • Khái niệm: –Nguyên nhân: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong 1 sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định. –Kết quả: là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên. Ví dụ: sự tác động của dòng điện lên dây dẫn (nguyên nhân) khiến cho dây dẫn nóng lên (kết quả) • Tính chất của mối quan hệ nhân quả: – Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ của chính bản thân thế giới, nó tác động độc lập với ý thức và ý muốn con người. – Tính phổ biến: Mối quan hệ nhân quả diễn ra trong mọi lĩnh vực của thế giới. Trong thế giới không có sự vật, hiện tượng nào xuất hiện, phát triển, diệt vong mà không có nguyên nhân. – Tính tất yếu: thể hiện ở chỗ đã có nguyên nhân ắt sẽ có kết quả và “nhân nào quả đấy”. • Mối quan hệ biện chứng: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ qua lại như sau: –Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả. Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau nào về mặt thời gian cũng là mối liên hệ nhân quả. Ví dụ: sự tích tụ nhiều nước trong các đám mây sinh ra mưa, nên sự tích tụ mây này phải có trước thì mới có kết quả là mưa. Và khi mưa thì tiếp theo có thể có sấm chớp nhưng mưa không phải là nguyên nhân mà là do sự tích điện của các đám mây. –Trong thực tế, mối liên hệ nhân quả diễn ra rất phức tạp: +Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả. ( nguyên nhân là do bão, nhiều kết quả là: mùa màng bị tàn phá, nhà cửa bị thiệt hại, nhiều người thiệt mạng,. . . ) +Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Nếu những nguyên nhân tác động cùng chiều có thể dẫn đến hình thành kết quả nhanh chóng. Nếu những nguyên nhân tác động ngược chiều thì có thể hạn chế hoặc triệt tiêu việc hình thành kết quả. ( Thắng lợi CMT8 15
Trang 17
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập là do nhiều nguyên nhân: tinh thần yêu nước, ý chí đoàn kết của nhân dân, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản,..) –Nguyên nhân và kết quả có khả năng chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất định, vì vậy, tạo ra chuỗi nhân quả vô tận. Một sự vật hiện tượng nào đó trong mối liên hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối liên hệ khác lại là kết quả và ngược lại. (Trong quan hệ giữa sự tích tụ hơi nước nhiều trong đám mây và mưa thì mưa là .., nhưng trong quan hệ mưa và ngập lụt thì mưa là . . . –Kết quả do nguyên nhân sinh ra nhưng nó không thụ động và tác động trở lại nguyên nhân theo hai hướng: thúc đẩy sự vận động của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc cản trở sự vận động của nguyên nhân (hướng tiêu cực). Ví dụ: con người hoạt động là nguyên nhân cho kết quả tiêu hao năng lượng của cơ thể, kết quả này quay trở lại làm cản trở hoạt động của con người. • Ý nghĩa của phương pháp luận: –Để nhận thức được sự vật, hiện tượng, cần tìm ra nguyên nhân của chúng; muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng nào đó cần loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó. –Khi tìm nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng, cần tìm ở các sự vật hiện tượng, mối liên hệ xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng đó xuất hiện. –Phải nhận thức sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ cụ thể của nó để thấy được vai trò của nó là nguyên nhân hay kết quả. –Cần phải phân loại nguyên nhân để có những biện pháp giải quyết đúng đắn, trong đó cần chú ý nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong. Câu 10 Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này? • Vị trí, vai trò của quy luật: là một trong ba quy luật của phép duy vật biện chứng, chỉ ra phương thức, cách thức vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới bằng cách tích lũy dần về lượng để thay đổi về chất. • Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cáikhác. Đặc điểm của chất: Chất được tạo thành từ những thuộc tính khách quan vốn có của sự vật. VD: kim loại có ánh kim, tính dẫn điện, tính dẫn nhiệt... Chất là tổng hợp nhiều thuộc tính, có những thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản 16
Trang 18
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập nhưng chỉ có thuộc tính cơ bản mới tạo thành chất của sự vật. Sự phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản chỉ là tương đối. Một sự việc có nhiều chất phụ thuộc vào các quan hệ cụ thể. Chất chịu sự quy định bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa các thuộc tính cấu thành lên sự vật. VD: than chì và kim cương. • Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động và phát triển của sự vật. Đặc điểm của lượng: Đặc điểm cơ bản của lượng là tính khách quan. Biểu hiện ở cấu trúc (kích thước dài ngắn, số lượng lớn nhỏ, trình độ cao thấp,. . . ) Như vậy chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng đều tồn tại khách quan tuy nhiên sự phân biệt giữa lượng và chất trong quá trình nhận thức chỉ là tương đối. Lượng có thể đo đếm được bằng những số liệu cụ thể, nhưng trong một số trường hợp của xã hội hay của tư suy thì chỉ nhận biết được bằng năng lực trừu tượng hóa. • Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất: Mỗi sự vật hiện tượng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. Chất bao giờ cũng thể hiện qua một lượng nhất định, không có chất thuần túy; lượng bao giờ cũng quy định một chất nhất định, không có lượng thuần túy. Độ là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và quy định lẫn nhau giữa chất và lượng, là giới hạn tồn tại của sự vật, hiện tượng; trong đó sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất, sự vật, hiện tượng vẫn là nó mà chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác. Điểm nút là điểm giới hạn mà tại đó, sự thay đổi về lượng đạt tới chỗ phá vỡ độ cũ, làm cho chất của sự vật, hiện tượng thay đổi, chuyển thành chất mới. Bước nhảy là khái niệm dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa cơ bản về chất của sự vật, hiện tượng do những thay đổi về lượng trước đó gây ra, là bước ngoặt cơ bản trong sự biến đổi về lượng. Lượng biến đổi dần dần dẫn đến sự thay đổi về chất: Lượng thay đổi dần dần, vượt quá giới hạn độ, tại điểm nút -> làm cho chất cũ mất đi, chất mới ra đời. Chất mới ra đời sẽ quy định một lượng mới, lượng mới tích lũy vượt giới hạn độ, tại điểm nút-> chất mới... Quá trình này diễn ra liêntục tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Khi chất mới ra đời sẽ có sự tác động trở lại lượng của sự vật: Chất mới ra đời sẽ quy định một lượng mới biểu hiện trên phương diện làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu vậnđộng 17
Trang 19
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập và phát triển của sự vật, làm thay đổi giới hạn độ, điểm nút tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật. • Ý nghĩa phương pháp luận: – Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, phải biết cách tích lũy về lượng để có biến đổi về chất, không nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn hay bảo thủ, trì trệ. – Trong xã hội, con người có thể góp phần tạo điều kiện phát triển về lượng để chuyển hóa về chất. – Lựa chọn thời điểm thích hợp để thúc đẩy biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng, nhất là trong hoạt động xã hội. – Lựa chọn phương pháp phù hợp tác động vào phương thức liên kết của các sự vật, hiện tượng để thay đổi nó. Câu 11 Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập ? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này? • Vị trí, vai trò của quy luật: Là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, chỉ ra nguồn gốc và động lực cơ bản phổ biến của sự vận động và phát triển: đó chính là mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật • Các khái niệm: Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm chỉ sự liên hệ giữa các mặt đối lập, các mặt này quy định lẫn nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau. Thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời tương đối, tức chỉ tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của các sự vật, hiện tượng. Đấu tranh mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật vận động, phát triển chứ không phá vỡ sự vật. Đấu tranh giữa các mặt đối lập có tính tuyệt đối, tức là đấu tranh phá vỡ sự ổn định tương đối dẫn đến sự chuyển hóa về chất củachúng. Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động vừa thống nhất, vừa đấu tranh, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Mâu thuẫn biện chứng là khách quan, phổ biến ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Các tính chất chung của mâu thuẫn: 18
Trang 20
hubdocu.com CLB Hỗ Trợ Học Tập Tính khách quan: vì mâu thuẫn là cái vốn có trong sự vật, hiện tượng, là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng. Tính phổ biến: Không có sự vật nào không có mâu thuẫn, mẫu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác xuất hiện, từ đó sự vật phát triển không ngừng. Tính đa dạng, phong phú: thể hiện ở chỗ, mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau • Mâu thuẫn là nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển: Sự thống nhất, đấu tranh các mặt đối lập chính là hai xu hướng tác động khác nhau mặt đối lập. Trong đó, hai xu hướng này tạo ra loại mâu thuẫn đặc biệt, từ đó mâu thuẫn biện chứng bao gồm sự thống nhất và sự đấu tranh của mặt đối lập. Trong quá trình phát triền và vận động thì sựthống nhất, đấu tranh của mặt đối lập không tách rời nhau. Đấu tranh của mặt đối lập được quy định tất yếu về sự thay đổi các mặt đang tác động, làm mâu thuẫn phát triển. Khi bắt đầu xuất hiện thì mâu thuẫn chỉ là một sự khác nhau cơ bản. Tuy nhiên theo khuynh hướng trái ngược nhau thì sự khác nhau này càng lớn lên và rộng dẫn ra đến khi nào trở thành đối lập. Khi hai mặt đối lập có sự xung đột gay gắt, đủ điều kiện thì sẽ tự chuyển hóa lẫn nhau và từ đó mâu thuận được giải quyết. Nhờ sự giải quyết theo hướng này mà thể thống nhất mới sẽ thay thế thể thống nhất cũ hay sự vật mới thay cho sự vật cũ bị mất đi. Sự phát triển là cuộc đấu tranh các mặt đối lập. Ta đã thấy rằng khi có thống nhất của các mặt đối lập thì sẽ có đấu tranh, đấu tranh và thống nhất các mặt đối lập thì không thể tách rời khỏi nhau đối với mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động, phát triển là sự thống nhất trong tính ổn định và tính thay đổi, đấu tranh và thống nhất các mặt đối lập quy định về tính thay đổi và tính ổn định sự vật. Do đó, mâu thuẫn là nguồn gốc của phát triển và vận động. • Ý nghĩa phương phápluận: – Tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, từ đó tìm phương pháp giải quyết phù hợp, thúc đẩy sự phát triển. – Phân tích mâu thuẫn cụ thể trong trường hợp cụ thể: bản chất của sự vật khác nhau, quá trình khác nhau, mâu thuẫn khác nhau, từ đó có cách giải quyết khác nhau, tránh máymóc. – Muốn thay đổi bản chất của sự vật thì phải giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt đối lập, không điều hòa, nóng vội hay bảo thủ. Câu 12 Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò của thực tiễn đối với quá trình nhận thức? 19
Hiển thị 20 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!