Trang 1
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang BÀI TẬP LỚN LUẬT THƯƠNG MẠI - CÔNG TY HỢP DANH *** Trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, công ty hợp danh xuất hiện lần đầu như một loại hình doanh nghiệp mới. Việc có mặt của loại hình doanh nghiệp này đã mở rộng sự lựa chọn hơn nữa cho các nhà kinh doanh, thu hút được nguồn vốn cả trong và ngoài nước, thúc đẩy mở rộng hợp tác quốc tế trong quá trình hội nhập. Luật Doanh nghiệp 2005 tiếp tục củng cố chặt chẽ hơn những qui định về loại hình doanh nghiệp này. Đề tài “Bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh” sẽ phần nào đó thể hiện rõ hơn về loại hình doanh nghiệp này. 1.Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh 1.1 Khái niệm Công ty hợp danh là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân. Công ty đối nhân là những công ty thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân giữa các thành viên tham gia, su hùn vốn chỉ là yếu tố thứ yếu; thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Một công ty hợp danh được thành lập nếu ít nhất có hai thành viên và phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm vô hạn, tức là chủ nợ có thể đòi bất kì thành viên nào toàn bộ số nợ của công ty và trách nhiệm này của các thành viên là như nhau, nếu giữa họ có sự thỏa thuận nào khác về việc chịu trách nhiệm tài sản thì sẽ lập tức chuyển sang loại hình công ty hợp vốn đơn giản. Khác với công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản có hai loại thành viên chịu trách nhiệm tài sản khác nhau, có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn (thành viên nhận vốn) còn các thành viên khác chịu trách nhiệm hữu hạn (thành viên góp vốn). Có thể thấy, khái niệm công ty hợp danh theo Luật doanh nghiêp 2005 có nội hàm từ khái niệm công ty đối nhân theo pháp luật các nước, khác biệt ở chỗ nó bao hàm chung cả hai loại công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Việc gộp chung hai loại hình này dựa trên những điểm tương tự về mặt qui chế pháp lí của chúng là điểm riêng của Luật doanh nghiệp Việt Nam khi định nghĩa về công ty hợp danh, song cũng còn tạo nên những điểm vướng mắc như liên quan đến giải thể công ty. 1.2 Đặc điểm 1.2.1 Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
Trang 2
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Luật quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Đây là điểm mới của Luật doanh nghiệp 2005 so với Luật doanh nghiệp năm 1999 và cũng khác với hầu hết pháp luật các nước. Đối chiếu với quy định về pháp nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005, tại Khoản 3 Điều 84: “Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”, ta thấy việc Luật quy định về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh là có sự mâu thuẫn, bởi một trong các yếu tố của pháp nhân là: phải có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. Nhưng ở công ty hợp danh thì tài sản của công ty không hoàn toàn độc lập với tài sản của các thành viên hợp danh do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn mà các thành viên này phải chịu. Theo đó, có quan điểm cho rằng, không có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và các thành viên cụ thể là thành viên hợp danh, do đó công ty hợp danh không thể là pháp nhân. Tuy nhiên, nếu không thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh thì việc tham gia tố tụng hay giao dịch với bên thứ ba của loại hình doanh nghiệp này sẽ trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi phải có một số những kỹ thuật pháp lý khác phù hợp hơn mà luật chưa qui định, công việc này không đơn giản và phức tạp hơn việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh. 1.2.2 Chế độ chịu trách nhiệm Công ty hợp danh chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi tài sản của công ty. Tài sản của công ty hợp danh bao gồm tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty, tài sản tạo lập được mang tên công ty, tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do các thành viên thực hiện nhân danh công ty và từ các hoạt động kinh doanh các ngành, nghế kinh doanh đã đăng ký của công ty do các thành viên hợp danh nhân danh cá nhân thực hiện, các tài sản khác theo quy định của pháp luật (Điều 132 Luật doanh nghiệp 2005). Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm liên đới vô hạn về tài sản đối với công ty. Sở dĩ thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm liên đới vô hạn là vì giữa thành viên hợp danh và công ty không có sự tách bạch về mặt tài sản. Chủ nợ có quyền đòi bất cứ thành viên hợp danh nào thanh toán toàn bộ khoản nợ của công ty, và các thành viên hợp danh phải dùng toàn bộ tài sản của mình cả tài sản đầu tư kinh doanh lẫn tài sản dân sự để chi trả, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
Trang 3
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Thành viên góp vốn (nếu có) chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty bằng số vốn đã góp vào công ty. Giới hạn trách nhiệm của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh giống giới hạn trách nhiệm của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Về giới hạn trách nhiệm của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp 2005 cần chú ý giữa số vốn đã góp và số vốn đã cam kết góp vào công ty. + Tại điểm c khoản 1 Điều 130 quy định “thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”. + Tại khoản 3 Điều 131 lại quy định “trường hợp có thành viên góp vốn không góp đúng và đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty”. + Tại khoản 2 Điều 140 cũng xác định thành viên góp vốn “chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp”. Như vậy, quy định về trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn tại các điều luật chưa nhất quán với nhau, giữa“số vốn đã cam kết” và “số vốn đã góp”. Khi có sự mâu thuẫn giữa các điều luật như vậy cần phải áp dụng quy định nào của pháp luật. Một trong các nguyên tắc áp dụng pháp luật là luật riêng, luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng, chỉ những gì luật riêng, luật chuyên ngành không quy định mới áp dụng quy định chung của pháp luật. Theo đó, quy định tại khoản 3 Điều 131 và điểm a khoản 2 Điều 140 Luật doanh nghiệp 2005 là những quy định riêng, cụ thể về trách nhiệm và nghĩa vụ của thành viên góp vốn cần phải được ưu tiên áp dụng trước quy định trước điểm c khoản 1 Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005. 1.2.3 Phát hành các loại chứng khoán. Khoản 3 Điều 130 Luật doanh nghiệp quy định “Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào”. Trong công ty hợp danh, yếu tố nhân thân rất được coi trọng. Vì vậy, những thay đổi về thành viên cũng rất khó khăn. Mặt khác, công ty hợp danh thường có cơ cấu đơn giản, quy mô kinh doanh vừa và nhỏ, lai có lợi thế là dễ vay vốn của ngân hàng. Vì vậy, không cần thiết phát hành các loại chứng khoán. Luật không cho phép công ty hợp danh phát hành cổ phiếu vì nếu công ty hợp danh cũng phát hành cổ phiếu như công ty cổ phần thì công ty hợp danh sẽ có thêm nhiều chủ sở hữu, cùng có quyền quản lí công ty. Tuy nhiên, cho dù công ty hợp danh có được phát hành trái phiếu thì vẫn không www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!