Trang 2
Tập bài giảng môn học: Kinh tế lượng Chương I NHẬP MÔN KINH TẾ LƯỢNG 1.1 KINH TẾ LƯỢNG LÀ GÌ? Diễn giải theo nghĩa đơn giản, kinh tế lượng (ECONOMETRICS) liên quan đến việc áp dụng các phương pháp thống kê trong kinh tế học. Tuy nhiên, trong thống kê kinh tế, các dữ liệu thống kê là chính yếu còn kinh tế lượng được là sự hợp nhất của lý thuyết kinh tế, công cụ toán học và các phương pháp luận thống kê. Mở rộng hơn, kinh tế lượng quan tâm đến : (1) Ước lượng các mối quan hệ kinh tế, (2) Đối chiếu lý thuyết kinh tế với thực tế và kiểm định các giả thuyết liên quan đến hành vi kinh tế, (3) Dự báo các hành vi của các biến số kinh tế. Sau đây là những ví dụ thực tế minh họa mỗi hoạt động này của kinh tế lượng : 1.1.1 Ước lượng các mối quan hệ kinh tế Kinh tế học thực nghiệm cung cấp rất nhiều ví dụ nhằm ước lượng các mối quan hệ kinh tế từ dữ liệu. Sau đây là một số các ví dụ : - Các nhà phân tích và các công ty thường quan tâm ước lượng cung/cầu của các sản phẩm, dịch vụ. - Một công ty thường quan tâm đến việc ước lượng ảnh hưởng của các mức độ quảng cáo khác nhau đến doanh thu và lợi nhuận. - Các nhà phân tích thị trường chứng khoán tìm cách liên hệ giá của cổ phiếu với các đặc trưng của công ty phát hành cổ phiếu đó, cũng như với tình hình chung của nền kinh tế. - Nhà nước muốn đánh giá tác động của các chính sách tiền tệ tài chính đến các biến quan trọng như thất nghiệp, thu nhập, xuất nhập khẩu, lãi suất, tỷ lệ lạm phát, và thâm hụt ngân sách ... 1.1.2 Kiểm định giả thuyết Một điểm tốt của kinh tế lượng là quan tâm đến việc kiểm định giả thuyết về các hành vi kinh tế. Ví dụ minh họa : - Các nhà phân tích thường quan tâm xem nhu cầu có co giãn theo giá và thu nhập hay không ? Biên soạn : ThS. Hoàng Thị Hồng Vân 1
Trang 3
Tập bài giảng môn học: Kinh tế lượng - Các công ty cũng muốn xác định xem chiến dịch quảng cáo của mình có thực sự tác động làm tăng doanh thu hay không ? - Công ty muốn biết lợi nhuận tăng hay giảm theo qui mô hoạt động ? - Các công ty kinh doanh thuốc lá và các nhà nghiên cứu y khoa đều quan tâm đến các báo cáo phẫu thuật tổng quát về hút thuốc và ung thư phổi (và các bệnh về hô hấp khác) có dẫn đến việc giảm tiêu thụ thuốc lá đáng kể hay không ? - Các nhà kinh tế vĩ mô muốn đánh giá hiệu quả của các chính sách nhà nước. 1.1.3 Dự báo Khi các biến số được xác định và chúng ta đánh giá được tác động cụ thể của chúng đến chủ thể nghiên cứu, chúng ta có thể muốn sử dụng các mối quan hệ ước lượng để dự đoán các giá trị trong tương lai. Ví dụ minh hoạ : - Các công ty dự báo doanh thu, lợi nhuận, chi phí sản xuất … cần thiết. - Chính phủ dự đoán nhu cầu về năng lượng để có chiến lược đầu tư xây dựng hoặc các thỏa thuận mua năng lượng từ bên ngoài cần được ký kết. - Các công ty dự báo các chỉ số thị trường chứng khoán và giá cổ phiếu. - Chính phủ dự đoán những con số như thu nhập, chi tiêu, lạm phát, thất nghiệp, và thâm hụt ngân sách và thương mại. - Các địa phương dự báo định kỳ mức tăng trưởng của địa phương qua các mặt: dân số; việc làm; số nhà ở, tòa nhà thương mại và các xưởng công nghiệp; nhu cầu về trường học, đường xá, trạm cảnh sát, trạm cứu hỏa, và dịch vụ công cộng; …v.v Do ba bước tổng quát được xác định trong phần mở đầu của chương này thường căn cứ vào dữ liệu mẫu hơn là dựa vào dữ liệu điều tra của tổng thể, vì vậy trong những cuộc điều tra chuẩn này sẽ có yếu tố bất định: - Các mối quan hệ ước lượng không chính xác. - Các kết luận từ kiểm định giả thuyết hoặc là phạm vào sai lầm do chấp nhận một giả thuyết sai hoặc sai lầm do bác bỏ một giả thuyết đúng. - Các dự báo dựa vào các mối liên hệ ước lượng thường không chính xác. Để giảm mức độ bất định, một nhà kinh tế lượng sẽ luôn luôn ước lượng nhiều mối quan hệ khác nhau giữa các biến nghiên cứu. Sau đó, họ sẽ thực hiện một loạt các kiểm tra để xác định mối quan hệ nào mô tả hoặc dự đoán gần đúng nhất hành vi của biến số quan tâm. Tính bất định này khiến cho phương pháp thống kê trở nên rất quan trọng trong môn kinh tế lượng. Biên soạn : ThS. Hoàng Thị Hồng Vân 2
Trang 4
Tập bài giảng môn học: Kinh tế lượng 1.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN MỘT NGHIÊN CỨU KINH TẾ LƯỢNG Để thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm, một nhà nghiên cứu phải có những câu trả lời thỏa đáng cho các câu hỏi sau: (1) Mô hình có ý nghĩa kinh tế không? Cụ thể, mô hình có thể hiện mọi quan hệ tương thích ẩn trong quá trình phát dữ liệu hay không? (2) Dữ liệu có tin cậy không? (3) Phương pháp ước lượng sử dụng có phù hợp không? Có sai lệch trong các ước lượng tìm được không? (4) Các kết quả của mô hình so với các kết quả từ những mô hình khác như thế nào? (5) Kết quả thể hiện điều gì? Kết quả có như mong đợi dựa trên lý thuyết kinh tế hoặc cảm nhận trực giác không? Do dó, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nói chung đều chia một nghiên cứu kinh tế lượng thành các bước sau: LYÙ THUYEÁT KINH TEÁ, KINH NGHIEÄM, NGHIEÂN CÖÙU KHAÙC XAÙC ÑÒNH VAÁN ÑEÀ THIEÁT LAÄP MOÂ HÌNH ÖÔÙC LÖÔÏNG MOÂ HÌNH KIEÅM ÑÒNH GIAÛ THUYEÁT THIEÁT LAÄP LAÏI MOÂ HÌNH DIEÃN DÒCH KEÁT QUAÛ CAÙC QUYEÁT ÑÒNH VEÀ DÖÏ BAÙO CHÍNH SAÙCH Hình 1.1 : Các bước thực hiện một nghiên cứu kinh tế lượng Biên soạn : ThS. Hoàng Thị Hồng Vân 3
Trang 5
Tập bài giảng môn học: Kinh tế lượng 1.2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu thường được xác định bởi yêu cầu của công việc và/hoặc do cấp trên của nhà nghiên cứu chỉ định. Ví dụ, một trong những nhiệm vụ chính của nhà phân tích trong bộ phận dự báo của ngành điện lực là ước lượng liên hệ giữa nhu cầu về điện và các yếu tố ảnh hưởng như thời tiết và tiêu thụ theo mùa, giá điện, thu nhập, loại máy móc gia dụng, đặc điểm địa lý, công nghiệp của nơi phục vụ …v.v. Mối liên hệ ước lượng sau đó sẽ được dùng để tính các giá trị dự báo lượng điện. Các giá trị dự báo này được ngành điện lực khu vực xem xét để quyết định cấu trúc giá mới như thế nào và có cần phải xây dựng thêm nhà máy năng lượng mới để đáp ứng nhu cầu người dân trong khu vực hay không. Trong ví dụ này, dễ dàng nêu ra vấn đề nghiên cứu là liên hệ giữa nhu cầu điện với các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này, và phát ra các dự báo. 1.2.2 Thiết lập mô hình Mọi phân tích hệ thống kinh tế, xã hội, chính trị hoặc vật lý dựa trên một cấu trúc logic (gọi là mô hình), cấu trúc này mô tả hành vi của các phần tử trong hệ thống và là khung phân tích chính. Trong kinh tế học, cũng như trong các ngành khoa học khác, mô hình này được thiết lập dưới dạng phương trình, trong trường hợp này, các phương trình này mô tả hành vi kinh tế và các biến liên quan. Một mô hình được nhà nghiên cứu thiết lập có thể là một phương trình hoặc là hệ gồm nhiều phương trình. Dựa trên lý thuyết kinh tế, kinh nghiệm, các nghiên cứu khác, nhà nghiên cứu sẽ đưa ra mô hình lý thuyết đề nghị. Chẳng hạn, một nhà kinh tế có thể xác định một hàm tiêu dùng có dạng như sau: Yt= β1 + β2Xt + ut (quan hệ không xác định, có tính ngẫu nhiên) Trong đó: Yt: Tiêu dùng ($billion) Xt: GDP ($billion) ut : là sai số, một biến ngẫu nhiên (stochastic) 1.2.3 Thu thập dữ liệu Để ước lượng mô hình kinh tế lượng mà một nhà nghiên cứu đưa ra, cần có mẫu dữ liệu về các biến phụ thuộc và biến độc lập. 1.2.4 Ước lượng mô hình kinh tế lượng. Sau khi mô hình đã được thiết lập và dữ liệu phù hợp đã được thu thập, nhiệm vụ chủ yếu của nhà điều tra là ước lượng những thông số chưa biết của mô hình. Trong ví dụ trên ta sẽ các ước lượng của số hạng tung độ gốc β1, số hạng độ dốc β2, và các thông số (như trung bình và phương sai) của phân bố xác suất của sai số ut. Biên soạn : ThS. Hoàng Thị Hồng Vân 4
Trang 6
Tập bài giảng môn học: Kinh tế lượng 1.2.5 Kiểm định giả thuyết Sau khi ước lượng mô hình, nhà nghiên cứu cần kiểm định các giả thuyết hoặc dự báo các giá trị của biến phụ thuộc, với những giá trị của các biến độc lập cho trước. Việc kiểm định chẩn đoán mô hình nhiều lần nhằm chắc chắn là những giả định đặt ra và các phương pháp ước lượng được sử dụng phù hợp với dữ liệu đã thu thập. Mục tiêu của kiểm định là tìm được những kết luận thuyết phục nhất, đó là những kết luận không thay đổi nhiều đối với các đặc trưng của mô hình. Kiểm định giả thuyết không chỉ được thực hiện nhằm cải tiến các đặc trưng của mô hình mà còn nhằm kiểm định tính đúng đắn của các lý thuyết. 1.2.6 Diễn dịch kết quả Bước cuối cùng của một nghiên cứu là diễn dịch các kết quả: ra quyết định về chính sách hay dự báo. 1.3 DỮ LIỆU TRONG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG Có ba dạng dữ liệu kinh tế cơ bản: dữ liệu chéo (cross-sectional data), dữ liệu chuỗi thời gian (time series data), và dữ liệu dạng bảng (panel data). - Dữ liệu chéo (cross-sectional data): bao gồm các quan sát cho nhiều đơn vị kinh tế tại một thời điểm cho trước. Các đơn vị kinh tế có thể là các cá nhân, các hộ gia đình, các hãng, các tỉnh thành, các quốc gia v.v... Ví dụ: Bộ dữ liệu liệu điều tra mức sống dân cư năm 2002 VLSS-2002 - Dữ liệu chuỗi thời gian (time series data): bao gồm các quan sát trên một đơn vị kinh tế cho trước tại nhiều thời điểm. Ví dụ: Ta có thể có các quan sát chuỗi thời gian hàng năm cho chỉ tiêu GDP của một quốc gia từ năm 1960 đến 2005. - Dữ liệu dạng bảng (panel data): là sự kết hợp giữa các quan sát của các đơn vị kinh tế về một chỉ tiêu nào đó theo thời gian. Ví dụ: chúng ta thực hiện điều tra về hộ gia đinh cho cùng những hộ gia đình trong vài năm để đánh giá sự thay đổi của những hộ này theo thời gian. Dữ liệu có thể được thu thập trên các biến "rời rạc" hay "liên tục ". - Biến rời rạc là biến có một tập hợp các kết quả nhất định có thể đếm được. Ví dụ: số thành viên trong một hộ gia đình là một biến rời rạc. - Biến liên tục là biến có một số vô hạn các kết quả, như là chiều cao của một đứa trẻ. Nhiều biến kinh tế được đo bằng những đơn vị đủ nhỏ để chúng ta coi chúng như là liên tục, mặc dù thực ra chúng là rời rạc. Biên soạn : ThS. Hoàng Thị Hồng Vân 5
Hiển thị 6 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!