3쪽
LỜI NÓI ĐẦU Trên thế giới kiểm toán đã có lịch sử rất lâu đời nhưng ở Việt Nam hoạt động này mới chỉ thực sự phát triển vào những năm trở lại đây. Từ sau khi Việt Nam ra nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì kiểm toán càng trở nên phát triển và đóng vai trò quan trọng. Hoạt động kiểm toán đã và đang góp phần làm minh bạch hóa thị trường tài chính nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Nền kinh tế phát triển thì theo đó hoạt động kiểm toán cũng phát triển và đa dạng hóa về loại hình cũng như chất lượng. Trong số các loại hình kiểm toán đang được thực hiện thì kiểm toán báo cáo tài chính được tiến hành nhiều nhất. Để đảm bảo có đủ sức cạnh tranh trên thương trường đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nỗ lực hết mình trong việc tạo nên uy tín, thị trường, năng lực tài chính để tạo nên hình ảnh của mình với khách hàng. Báo cáo tài chính đã được kiểm toán là trung thực hợp lý, phù hợp với các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành cũng như những quy định của nhà nước chính là yếu tố không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp khi muốn tạo niềm tin với khách hàng và làm cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước . Vì vậy, trong điều kiện hiện nay kiểm toán tài chính là một yếu tố không thể thiếu được của tất cả các doanh nghiệp. Đối với Kiểm toán báo cáo tài chính thì kiểm toán khoản mục doanh thu luôn là quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian nhất. Vì khoản mục doanh thu luôn có số phát sinh tương đối lớn, các nghiệp vụ cũng phức tạp hơn, liên quan đến nhiều tài khoản. Người ta còn căn cứ vào đó để xác định kết quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Đây cũng là khoản mục chứa nhiều khả năng sai sót có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Do đó, các Công ty kiểm toán phải có một quy trình kiểm toán doanh thu hiệu quả đủ để nắm bắt hết các rủi ro trong khoản mục này. Đó cũng là lý do em chọn để tài ! " 1 # $! % &'(
4쪽
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ…” để nghiên cứu trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn UHY. Chuyên đề thực tập của em gồm ba phần: Phần I: Khái quát chung về Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn UHY. Phần II: Thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại do Công ty TNHH Dịch vụ kiểm toán và tư vấn UHY thực hiện. Phần III: Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Công ty UHY. ! " 2 # $! % &'(
5쪽
PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH 1.1. Đặc điểm của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ảnh hưởng đến kiểm toán doanh thu trong kiểm toán tài chính 1.1.1. Khái niệm và bản chất của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Quá trình sản xuất hoạt động kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho nhu cầu của con người. Trong đó hoạt động bán hàng và ghi nhận doanh thu có thể coi là là hoạt động cuối cùng của quá trình sản xuất. Hoạt động này đem lại doanh thu cho doanh nghiệp. Nhờ đó, doanh nghiệp mới có thể quay vòng vốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, và mở rộng thị trường. Doanh thu theo từ điển Tiếng Việt là tổng thu nhập do kinh doanh trong một thời kỳ nhất định gồm cả vốn lẫn lãi. Còn theo quan điểm của Mác thì: “Doanh thu là kết quả của quá trình tiêu thụ, đó là kết quả của quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa. Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng chu chuyển vốn”. Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác thì “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kì kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. ! " 3 # $! % &'(
6쪽
Như vậy, bản chất của Doanh thu là: - Tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong tương lai. - Được phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp. - Góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Một khoản được coi là doanh thu khi nó thỏa mãn cả ba nội dung trên. Các khoản thu hộ bên thứ ba không được hạch toán là doanh thu vì nó không mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Ngoài ra, các khoản đóng góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu mặc dù làm tăng vốn cho doanh nghiệp nhưng lại không phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp nên không được hạch toán là doanh thu. Khoản mục doanh thu trong doanh nghiệp bao gồm: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - Doanh thu nội bộ - Doanh thu tài chính Trong đó, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả khoản thu phụ và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Đây là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải chú ý đến một số nội dung khác liên quan đến chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ như: - Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua do người mua thanh toán tiền hàng trước thời hạn trong hợp đồng. Khoản chiết khấu này thường được tính theo tỷ lệ chiết khấu thanh toán mà khi hai bên kí kết hợp đồng đã thỏa thuận. ! " 4 # $! % &'(
7쪽
- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá cho người mua khi khách hàng mua với số lượng lớn. - Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng kém phẩm chất, lạc hậu, lỗi thời hoặc sai quy cách. - Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng hóa đã tiêu thụ và bị khách hàng trả lại do nguyên nhân nào đó và từ chối thanh toán. 1.1.2. Điều kiện ghi nhận Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Tiêu chí ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào từng loại doanh thu của các hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác thì doanh thu từ hàng bán được ghi nhận đồng thời phải thỏa mãn cả 5 điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Cũng theo Chuẩn mực kế toán số 14 thì doanh thu từ cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kì kinh doanh thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán kì đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn cả bốn điều kiện sau: - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn ! " 5 # $! % &'(
앞 7페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.
댓글 (0)
댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!