[Bài luận] Quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp XNK và doanh nghiệp logistics. Mô hình lý thuyết cho VN

THThiNganHang
다운로드 0회
17
0

자료 내용

1쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU VÀ DOANH NGHIỆP LOGISTICS: MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CHO VIỆT NAM COOPERATIVE RELATIONSHIPS BETWEEN EXPORT AND IMPORT FIRMS AND LOGISTICS FIRMS: A THEORETICAL MODEL FOR VIETNAM TS. Đặng Thị Thu Trang Khoa Thương mại, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tóm tắt Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định những nhân tố chính ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp dịch vụ logistics (trong nghiên cứu này gọi tắt là doanh nghiệp logistics) ở Việt Nam nhằm phát triển quan hệ này trong tương lai. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu khác nhau về ảnh hưởng của các nhân tố này đến quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp (cooperative relationship), đặc biệt là giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp logistics trên thế giới, kết hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu và logistics, tác giả xây dựng mô hình thích hợp về ảnh hưởng của những nhân tố này đến quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp logistics Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn ở các doanh nghiệp này trong tương lai và gợi mở các hàm ý nhằm tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp này. Từ khoá: doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp dịch vụ logistics, quan hệ hợp tác Abstract This article attempted to identify the main factors that are affecting the cooperative relationships between export and import firms and logistics firms in Vietnam in order to predict their future development. Based on the synthesis of various studies on the effects of these factors on inter-firm cooperation worldwide, in particular for relationship between export and import firms and logistics firms with the analysis of actual situations in Vietnam, the author builds a solution model on the cooperative relationship between export and import firms and logistics firms in order to facilitate the practical study at these prospective firms in Vietnam. Keywords: export and import firm, logistics firm, cooperative relationship 1. Giới thiệu www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

2쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp hay giữa các đối tác đã được nghiên cứu khá bài bản về lý thuyết cũng như ứng dụng thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới (Anderson & Narus, 1990; Hanna & Walsh, 2008; Huybers & Bennett, 2003; Lane & Bachmann, 1997; Morgan & Hunt, 1994; Rosenfeld, 1996) và kể cả ở Việt Nam (Nguyen, 2011). Vai trò của hợp tác giữa các hãng ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp logistics Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu rộng: sự hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và cuối năm 2015 với lộ trình tự do hoá dịch vụ logistics vào năm 2013 và nhất là Việt Nam sẽ sớm tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)1. Thực tế cho thấy kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam đang tăng nhanh: tính đến tháng 9/2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt xấp xỉ 230 tỷ USD, tăng 12,9 % so với cùng kỳ năm 20142. Đặc biệt, Việt Nam đã có những mặt hàng xuất khẩu kỷ lục như gạo, cà phê, nông thuỷ sản... Có được thành quả này một phần nhờ vào sự phát triển của dịch vụ logistics Việt Nam trong thời gian qua. Trong khi đó, về phần mình, các nhà xuất nhập khẩu cũng là những người cung cấp việc làm cho những công ty logistics. Sự thay đổi của chủ hàng do vậy là một trong những nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển của ngành logistics. Tuy nhiên, so với các nước phát triển trên thế giới, và kể cả so với một số quốc gia trong khu vực ASEAN, chất lượng dịch vụ logistics Việt Nam chưa cao đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xuất nhập khẩu. Vì thế, hợp tác giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics có thể là giải pháp hữu hiệu. Hợp tác hiệu quả giữa các doanh nghiệp này sẽ góp phần giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong ngành với những giải pháp giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các giải pháp quản lý rủi ro, giảm tổn thất trong vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua dịch vụ đại lý hải quan... Việt Nam được đánh giá là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý vô cùng thuận lợi để phát triển ngành logistics với bờ biển dài khoảng 3.260 km trải dài từ Bắc đến Nam, trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển, 20 sân bay và hàng trăm cửa khẩu quốc tế, nằm ở trung tâm khu vực châu Á – Thái Bình Dương... Tuy nhiên tiềm năng và lợi thế này chưa được phát huy đúng mức, đặc biệt trong việc phát triển dịch 1 http://www.vlr.vn/vn/news/doanh/giao-nhan-kho-van/1712/tang-cuong-hop-tac-doanh-nghiep-xuat-nhap-khau- va-logistics.vlr 2http://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=848&Category=Ph%C3%A2n%20t %C3%ADch%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20k%E1%BB%B3&Group=ph%C3%A2n%20t%C3%ADch www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

3쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang vụ logistics hỗ trợ xuất nhập khẩu. Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thiếu sự gắn kết giữa các doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Mặt khác, nghiên cứu tại các quốc gia phát triển và ngay cả trong khu vực cho thấy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn đàm phán và tìm ra các phương thức mua bán hàng hoá mà người bán tìm mọi cách để đưa hàng hoá đến tận cửa của người mua kể cả việc trả thuế quan nhập khẩu... tạo ra chuỗi cung ứng ổn định và bền vững mà người mua sẵn sàng chấp nhận, trong khi đó các chủ hàng Việt Nam thì làm ngược lại. Thêm vào đó, tập quán mua CIF bán FOB khiến các doanh nghiệp Việt Nam chỉ khai thác vận tải và bảo hiểm được từ 10 đến 18% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu. Rõ ràng là việc đẩy mạnh liên kết các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics là chìa khoá để nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị của thương mại. Do đó, cần phải nghiên cứu về mặt thực tiễn để tìm ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến quan hệ gia hợp tác giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics. Trong khuôn khổ này, nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết những nhân tố tác động đến sự hợp tác giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics sẽ làm tiền đề cho nghiên cứu thực tiễn vấn đề này trong tương lai. 2. Khái quát về doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam Theo Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, với quy mô 20 – 22 tỷ USD/năm, chiếm gần 21% GDP cả nước, những năm gần đây, ngành dịch vụ logistics đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Hiện cả nước có khoảng 1200 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (tăng cao so với con số 700 doanh nghiệp vào năm 2005), con số này cao hơn nhiều so với Thái Lan, Singapore, với tốc độ phát triển trung bình đạt khoảng từ 16-20%/năm, chủ yếu dịch vụ giao nhận vận tải, kho bãi, bốc dỡ, đại lý vận tải. Trong đó có 25 doanh nghiệp đa quốc gia đang hoạt động trong lĩnh vực này, chiếm khoảng 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics. Phần đông còn lại là các doanh nghiệp trong nước có quy mô vừa và nhỏ, vốn điều lệ bình quân từ 4-6 tỷ VNĐ (thay vì từ 1-1,5 tỷ VNĐ những năm trước 2005). Theo Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, các doanh nghiệp này chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics quốc tế, nhất là chỉ mới thực hiện được các dịch vụ đơn giản, các dịch vụ trọn gói cho khách hàng còn hạn chế và rất ít doanh nghiệp có chi nhánh, văn phòng ở nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp trong nước đã không www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

앞 3페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!