Phân tích số liệu tài chính doanh nghiệp - Những điều cần chú ý

THThiNganHang
ダウンロード数: 1
15
0

資料の内容

1 ページ

http://thinganhang.com Tài liệu BUỔI 1-2 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP – NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý www.giangblog.com 1

2 ページ

CÔNG TY CỔ PHẦN GEMADEPT - GMD BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN đvt: 1000vnđ Chỉ tiêu 31/12/2010 Tài sản ngắn hạn (Current Assets) 2058510863 Tiền và các khoản tương đương tiền (Cash and Cash Euivalents) 263852535 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (Short term financial investment) 1027123505 Các khoản phải thu ngắn hạn (Short term Account Receivables) 626731592 Hàng tồn kho (Inventory) 30577584 Tài sản ngắn hạn khác (Other Current Assets) 110225645 Tài sản dài hạn (Non-current Assets) 2735636533 Các khoản phải thu dài hạn (Long term Account Receivable) 37000000 Tài sản cố định (Fixed assets) 713653264 Bất động sản đầu tư (Real Estate Investment) 251094268 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn (Long term Finacial Investments) 1686345112 Tài sản dài hạn khác (Other long term assets) 47543888 Tổng cộng tài sản (Total Assets) 4794147397 Nợ phải trả (Liabilities) 1266855823 Nợ ngắn hạn (Short term Liabilities) 762451259 Nợ dài hạn (Long term Liabilities) 504404564 Vốn chủ sở hữu (Owners equity) 3527291574 Nguồn kinh phí và quỹ khác (Expenditures and Other Funds) - Tổng cộng nguồn vốn (Total Equity) 4794147397 www.giangblog.com 2

3 ページ

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Chỉ tiêu Năm 2010 Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh (Gross Sale Revenues) 1451770476 Các khoản giảm trừ doanh thu (Deduction revenues) - Doanh thu thuần (Net Sales) 1451770476 Giá vốn hàng bán (Cost of goods sold) 1322819391 Lợi nhuận gộp (Gross profit) 128951084 Doanh thu hoạt động tài chính (Financial activities Revenues) 224689059 Chi phí tài chính (Financial Expenses) 196029523 Chi phí bán hàng (Selling Expenses) 868388 Chi phí quản lý doanh nghiệp (Managing Expenses) 65246946 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (Net Profit from Operating activities) 91495286 Thu nhập khác (Other incomes) 53981892 Chi phí khác (Other Expenses) 7001382 Lợi nhuận khác (Other profits) 46980510 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (Total profit before tax) 138475797 Chi phí thuế TNDN (Corporate Income Tax Expenses) 11656519 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (Profit after Corporate Income Tax) 127446775 EPS 1.275 P/E 26 www.giangblog.com 3

4 ページ

I. CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH 1. Các chỉ số về khả năng thanh toán: 1. Khả năng thanh toán hiện hành (Current Ratio): = tài sản lưu động / nợ ngắn hạn Tài sản lưu động bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn, khoản phải thu và hàng tồn kho. Khả năng thanh toán hiện hành đo lường khả năng mà các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán hiện hành cao thể hiện tiềm năng thanh toán của doanh nghiệp là cao so với nghĩa vụ phải thanh toán. Tuy nhiên một doanh nghiệp có khả năng thanh toán hiện hành quá cao cũng có thể do doanh nghiệp đó đã đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn mà chưa chắc đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. VD: Khả năng thanh toán hiện hành của GMD: CR = 263852535+1027123505+626731592+30577584+110225645 =2.700 762451259 2. Khả năng thanh toán nhanh (Quick Ratio hoặc Acid-Test Ratio): = (tài sản lưu động - hàng tồn kho) / nợ ngắn hạn = (tiền + CK ngắn hạn + khoản phải thu) / nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán nhanh đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này càng lớn hể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao. Tuy nhiên hệ số này quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động, tập trung quá nhiều vốn bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn không hiệu quả. VD: Khả năng thanh toán nhanh của GMD: QR =263852535+1027123505+626731592+110225645 =2.660 762451259 3. Khả năng thanh toán tức thì (Cash Ratio): = (tiền + CK ngắn hạn) / nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán tức thì cho biết khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích VD: Khả năng thanh toán tức thì của GMD: = 263852535+1027123505 = 1.693 762451259 www.giangblog.com 4

5 ページ

2. Các chỉ số về hoạt động: 1. Số vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover Ratio) và số ngày của một vòng quay hàng tồn kho (Day’s Sales in Inventories): Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho Số ngày của 1 vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho / (Giá vốn hàng bán / Số ngày trong kì phân tích) Số ngày trong kì phân tích thường là 360 hoặc 365 ngày (1 năm). Số vòng quay của hàng tồn kho là chỉ tiêu diễn tả tốc độ lưu chuyển hàng hóa. Nó cho biết khả năng quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp. Số vòng quay trong kì phân tích càng cao (tương ứng với số ngày cho 1 vòng quay càng ngắn) chứng tỏ hàng tồn kho được luân chuyển nhanh, vốn không bị ứ đọng, và ngược lại. Tuy nhiên với số vòng quay quá cao cũng có thể cho thấy sự trục trặc trong khâu sản xuất (năng suất và quy mô sản xuất nhỏ không đáp ứng nhu cầu), khâu cung cấp hàng hóa (hàng hóa dự trữ thấp không cung ứng kịp thời cho khách hàng) có thể gây mất uy tín và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. VD: Số vòng quay hàng tồn kho của GMD = 1322819391 = 43.261 30577584 Số ngày của 1 vòng quay hàng tồn kho của GMD = 30577584 =8.437 (1322819391/365) 2. Số vòng quay các khoản phải thu (Receivable Turnover Ratio) và kì thu tiền bình quân (Average Collection Period): Số vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần / Các khoản phải thu Kì thu tiền bình quân = Các khoản phải thu / (Doanh thu thuần / Số ngày trong kì phân tích) Hai hệ số cho biết khả năng thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp. Nếu số vòng quay các khoản phải thu ít (tương đương với số ngày trung bình thu được nợ là cao) chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản nợ bị chậm, doanh nghiệp bị ứ đọng vốn, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng thanh toán của doanh nghiệp là thấp. Ngược lại, nếu số vòng quay các khoản phải thu trong một kì báo cáo là cao (tương đương với số ngày trung bình thu được nợ là ít) chứng tỏ thời gian bán chịu cho khách hàng là ngắn, doanh nghiệp đạt hiệu quả sử dụng vốn cao và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp rất tốt. VD: Số vòng quay các khoản phải thu của GMD = 1451770476 = 2.316 626731592 Kì thu tiền bình quân của GMD= 626731592 = 157.571 1451770476/365 3. Vòng quay tài sản (Asset Turnover Ratio): = Doanh thu thuần / Tổng tài sản bình quân Tổng tài sản bình quân = (Tổng tài sản đầu năm + Tổng tài sản cuối năm) / 2 www.giangblog.com 5

6 ページ

Vòng quay tài sản nói lên cứ một đồng tài sản đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kì thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. So với thời kì trước, nếu hệ số này bị giảm sút chứng tỏ sức sản xuất của tổng tài sản của doanh nghiệp bị giảm sút. VD: Tổng tài sản cuối năm 2009 của GMD là 2927125550. Tổng tài sản bình quân của GMD = 4794147397+2927125550 = 3860636474 2 Vòng quay tài sản của GMD = 1451770476 = 0.376 3860636474 4. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (Fixed Asset Turnover Ratio): = Doanh thu thuần / TSCĐ bình quân Hiệu suất sử dụng TSCĐ cho biết cứ một đồng TSCĐ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kì thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. So với kì trước, nếu hệ số này bị giảm sút chứng tỏ sức sản xuất của TSCĐ của doanh nghiệp đã bị giảm xuống. VD: Tài sản cố định cuối năm 2009 của GMD là 772945094. Tài sản cố định bình quân của GMD = 713653264+772945094 = 743299179 2 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của GMD = 1451770476 = 1.953 743299179 5. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động (Working Capital Turnover Ratio): = Doanh thu thuần / Vốn lưu động Hiệu suất sử dụng vốn lưu động cho biết cứ một đồng vốn lưu động đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kì thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. So với kì trước, nếu hệ số này bị giảm sút chứng tỏ sức sản xuất của vốn lưu động của doanh nghiệp đã bị giảm xuống. Vốn lưu động = Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn VD: Vốn lưu động của GMD = 2058510863 - 762451259 = 1296059604 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của GMD = 1451770476 = 1.12 1296059604 3. Các chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư: 1. Hệ số nợ (Debt Ratio) và hệ số tự tài trợ (hệ số vốn chủ sở hữu): Hệ số nợ = Tổng nợ phải trả / Tổng nguồn vốn Hệ số vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 - Hệ số nợ www.giangblog.com 6

7 ページ

Hệ số nợ cho biết trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ bên ngoài (từ các chủ nợ) chiếm bao nhiêu phần trăm hay bao nhiêu phần cho vay nợ mà có. Hệ số vốn chủ sở hữu dùng để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nếu hệ số nợ càng thấp (tức hệ số vốn chủ sở hữu càng cao) thì sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào người cho vay càng ít, món nợ của người cho vay càng được đảm bảo an toàn, nền tảng vốn chủ sở hữu của doaanh nghiệp đó càng mạnh. VD: Hệ số nợ của GMD= 1266855823 = 0.264 4794147397 Hệ số vốn chủ sở hữu của GMD = 3527291574 = 0.736 4794147397 2. Đòn bẩy tài chính: = Tổng tài sản / Vốn chủ sở hữu VD: Đòn bẩy tài chính của GMD= 4794147397 = 1.359 3527291574 3. Tỉ suất đầu tư TSCĐ: = Tài sản cố định / Tổng tài sản Chỉ số này thực chất phản ánh tỉ trọng của TSCĐ của doanh nghiệp trong tổng tài sản nói chung. Chỉ tieu này càng lớn và có xu hướng tăng qua các năm sẽ cho biết tình hình trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp tăng lên. Nói cách khác nó chứng tỏ doanh nghiệp đang mở rộng sản xuất kinh doanh, năng lực sản xuất của doanh nghiệp sẽ tăng lên. VD: Tỉ suất đầu tư TSCĐ của GMD = 713653264 = 0.149 4794147397 4. Hệ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần (Debt-Equity ratio): = Nợ dài hạn / Vốn chủ sở hữu VD: Hệ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần của GMD= 504404564 = 0.143 3527291574 5. Hệ số nợ dài hạn (Long-term Debt Ratio): = Nợ dài hạn / (Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu) VD: Hệ số nợ dài hạn của GMD = 504404564 = 0.125 3527291574+504404564 6. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay (Times Interest Earned Ratio hay Interest Cover Ratio): = EBIT / Chi phí lãi vay Trong đó EBIT: lợi nhuận trước thuế và lãi vay Ở Việt Nam lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đã trừ đi lãi vay nên EBIT = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế + Chi phí tài chính www.giangblog.com 7

8 ページ

Hệ số này cho biết, trong kì doanh nghiệp đã tạo ra lợi nhuận gấp bao nhiêu lần lãi phải trả về tiền vay. Hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng chi lãi trả tiền vay càng thấp và ngược lại. VD: Hệ số khả năng thanh toán lãi vay của GMD = 138475797+196029523 = 1.706 196029523 4. Các chỉ số về khả năng sinh lời: 1. Tỉ lệ lãi gộp (Gross Profit Margin): = Lợi nhuận gộp / Doanh thu thuần VD: Tỉ lệ lãi gộp của GMD= 128951084= 0.089 1451770476 Tỉ lệ lãi gộp thể hiện khả năng trang trải chi phí đặc biệt là chi phí bất biến để đạt đến lợi nhuận. Sự biến động của hệ số này là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh và tỷ lệ chi phí kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp sẽ có một tỉ lệ lãi gộp thích hợp. 2. Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay: = EBIT / Doanh thu thuần Hệ số này cho biết một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. VD: Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay của GMD = 138475797+196029523 = 0.230 1451770476 3. Hệ số lợi nhuận ròng (Net Profit Margin hay Return on Sales - ROS): = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần Hệ số này cho biết một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. VD: ROS của GMD = 127446775 = 0.088 (8.8%) 1451770476 4. Hệ số lợi nhuận tài sản - Suất sinh lợi trên tài sản (Return on Assets - ROA): = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản Hệ số này cho biết cứ một đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh thì sẽ cho bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong điều kiện bình thường, hệ số này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng tốt, đồng thời cho biết doanh nghiệp sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hiệu quả và hợp lý. Tuy nhiên ROA cao không có nghĩa là môt đồng tài sản mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất hôm nay cũng tạo ra một mức lợi nhuận cao như thế. VD: ROA của GMD = 127446775 = 0.027 (2.7 %) 4794147397 5. Suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE): = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu www.giangblog.com 8

9 ページ

ROE cho ta biết một đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu. VD: ROE của GMD = 127446775 = 0.036 (3.6 %) 3527291574 6. Phương trình Dupont: ROE = ROA * Đòn bẩy tài chính = ROS * Số vòng quay tài sản * Đòn bẩy tài chính VD: 0.036 = 0.088* 0.376 * 1.359 5. Các chỉ số về giá trị thị trường của doanh nghiệp: 1. Thư giá cổ phiếu thường (Book Value): = (Tổng tài sản - Tổng nợ - Giá trị cổ phiếu ưu đãi) / Lượng cổ phiếu thường đang lưu hành 𝟒𝟕𝟗𝟒𝟏𝟒𝟕𝟑𝟗𝟕𝟎𝟎𝟎 − 𝟏𝟐𝟔𝟔𝟖𝟓𝟓𝟖𝟐𝟑𝟎𝟎𝟎 𝑇ℎư 𝑔𝑖á = = 35273 100000000 Được tính từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp theo những nguyên tắc và phương pháp hạch toán kế toán có chuẩn mực rõ ràng, vì thế thư giá được sử dụng để so sánh giá trị cổ phiếu giữa các công ty. 2. Lợi nhuận trên 1 cổ phiếu (Earning per Share - EPS): = (Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức ưu đãi) / Lượng cổ phiếu thường đang lưu hành 𝟏𝟐𝟕𝟒𝟒𝟔𝟕𝟕𝟓𝟗𝟏𝟑 𝐸𝑃𝑆 = = 1275 100000000 Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. 3. Tỉ lệ chia cổ tức: = Cổ tức thường / Lợi nhuận trên 1 cổ phiếu 4. Hệ số P/E (Price / Earning Ratio): = Thị giá của cổ phiếu / Lợi nhuận trên 1 cổ phiếu 𝟑𝟑𝟐𝟎𝟎 𝑃/𝐸 = = 26 1275 Hệ số này thường được sử dụng như một tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng phát triển của doanh nghiệp trong dài hạn. Nó cho biết số tiền mà nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra để có được một đồng lợi nhuận của doanh nghiệp. 5. Hệ số P/B (Price to Book value Ratio): = Thị giá của cổ phiếu / Giá trị sổ sách của cổ phiếu 𝟑𝟑𝟐𝟎𝟎 𝑃/𝐵 = = 0.94 35273 Hệ số này so sánh sự tương quan giữa giá trị thị trường (thị giá) với giá trị sổ sách (mệnh giá) của cổ phiếu. www.giangblog.com 9

10 ページ

6. Hệ số P/S (Price to Sale per Share Ratio): = Thị giá của cổ phiếu / Doanh thu tính trên 1 cổ phiếu 𝟏𝟒𝟓𝟕𝟕𝟎𝟒𝟕𝟔𝟎𝟎𝟎 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡𝑟ê𝑛 𝑚ộ𝑡 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 = = 14518 100000000 𝟑𝟑𝟐𝟎𝟎 𝑃/𝑆 = = 2.29 14518 7. Hệ số P/D (Price to Dividend Ratio): = Thị giá của cổ phiếu / Cổ tức II. PHÂN TÍCH CHỈ SỐ TÀI CHÍNH – NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý 1. Phân tích rủi ro: Với báo cáo tài chính chỉ có thể cho chúng ta khả năng đánh giá rủi ro từ nội bộ công ty. Các nhà phân tích chủ yếu đánh giá rủi ro của Công ty trên 2 phương diện : Tính thanh khoản (liquidity) và khả năng đổ vỡ (Solvency - Cơ cấu vốn và rủi ro tài chính). Tiền mặt và các tài sản gần với tiền mặt là những nguồn cần thiết giúp công ty đối phó với các loại rủi ro khác nhau; nghĩa là những nguồi chuyển đổi nhanh chóng thành tiền và khả năng tạo ra tiền giúp công ty có sự linh hoạt tài chính. Tiền cũng là cầu nối cho phép hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư và huy động vốn của công ty được hiệu quả và linh động 1.1.Rủi ro thanh khoản ngắn hạn Với rủi ro thanh khoản ngắn hạn, các chỉ tiêu (1) tỷ lệ thanh toán hiện hành, tỷ lệ thanh khoản nhanh, (2) tỷ lệ ngân lưu từ hoạt động SXKD so với nợ ngắn hạn và (3) tỷ lệ quay vòng vốn lưu động được xem xét trước tiên. 1.1.1. Tỷ lệ thanh toán hiện hành Mặc dù chúng ta mong muốn tài sản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn để đảm bảo tỷ số luôn lớn hơn 1 nhưng các thay đổi trong khuynh hướng của tỷ lệ này có thể gây hiểu lầm. Ở thời kỳ hưng thịnh, công ty có thể giữ tiền mặt bằng cách hoãn trả các khoản nợ ngắn hạn, gây tác động ngược lại. Như vậy, khả năng thanh toán hiện hành có thể cao khi hoạt động kinh doanh không thuận lợi và ngược lại. Hơn nữa, các nhà quản trị có khả năng thay đổi tỷ lệ này. Họ có thể làm những bước có chủ ý để tạo ra bản báo cáo có tỷ lệ thanh toán hiện hành tốt hơn bình thường. Ví dụ, gần đến ngày cuối năm tài chính, một công ty có thể hoãn mua hàng trả chậm. Hoặc công ty thu hồi loại các khoản cho nhân viên vay và dùng tiên thu đuợc để giảm nợ vay ngắn hạn. Khi tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành vượt quá 1, những việc làm như vậy có thể làm tăng tỷ lệ này. Đây được xem là "nghệ thuật trang trí" báo cáo tài chính. 1.1.2. Tỷ lệ ngân lưu từ hoạt động SXKD so với nợ ngắn hạn. www.giangblog.com 10

11 ページ

Nhiều nhà phân tích chỉ trích tỷ lệ thanh toán hiện hành bởi vì số liệu được sử dụng là số liệu thời điểm. Nếu tại thời điểm đó mà số liệu báo cáo cao hoặc thấp một cách khác thường thì tỷ lệ trên không phản ánh được điều kiện bình thường. Tỷ lệ ngân lưu từ SXKD so với nợ ngắn hạn phần nào khắc phục được nhược điểm này. 1.1.3. Tỷ lệ vòng quay vốn lưu động Trong hoạt động SXKD chính, một công ty mua chịu hàng hóa từ người cung cấp, bán chịu hàng hóa cho khách hàng, thu hồi công nợ và trả nợ cho nhà cung cấp. Các công ty luôn phải huy động vốn cho hàng tồn kho và khoản phải thu. Nhà cung cấp thường đáp ứng được một phần vốn cần thiết. Kỳ thu tiền bình quân (365/ tỷ suất vòng quay các khoản phải trả) cho thấy khoảng thời gian từ lúc mua chịu đến lúc trả tiền cho nhà cung cấp. Tỷ suất quay vòng khoản phải trả bằng giá trị mua chia bình quân khoản phải trả. Mặc dù các công ty không cho biết giá trị mua, các nhà phân tích có thể phỏng chừng số liệu theo công thức : Giá trị mua = Giá vốn hàng bán + Tồn kho cuối kỳ - Tồn kho đầu kỳ Diễn giải tỷ suất vòng quay các khoản phải trả liên quan đến các ý kiến trái ngược nhau. Tỷ suất cao cho thấy công ty trả nợ cho nhà cung cấp nhanh, đòi hỏi phải có tiền mặt và thậm chí phí phạm tiền mặt nếu công ty trả sớm hơn mức cần thiết. Mặt khác, vòng quay khoản phải trả nhanh nghĩa là số lượng các khoản phải trả trong tương lai thấp hơn. 1.2. Rủi ro thanh khoản dài hạn Khả năng tạo ra lợi nhuận trong nhiều năm là điều kiện tốt nhất để bảo vệ công ty khỏi rủi ro mất thanh khoản trong dài hạn. Nếu công ty có lãi, nó sẽ tạo ra lượng tiền cần thiết từ hoạt động KD hoặc có số vốn cần thiết từ người cho vay và chủ sở hữu. Các nhà phân tích đo lường khả năng thanh khoản dài hạn dựa vào các chỉ số sau: (1) tỷ lệ nợ/ vốn chủ, (2) tỷ lệ ngân lưu từ hoạt động SXKD đối với tổng nợ và (2) tỷ lệ ngân lưu từ SXKD với lãi vay (khả năng đảm bảo nợ và lãi vay). Và do vậy, tính ổn định của ngân lưu từ SXKD rất được quan tâm. Nhìn chung, các nhà phân tích phê phán việc dùng lợi nhuận thay cho ngân lưu ở tử số. Công ty có thể trả lãi và các khoản nợ bằng tiền mặt chứ không phải các tài khoản sinh lãi. 2. Phân tích hoạt động: Các nhà phân tích thường quan tâm đến 3 thành tố chính : Vòng quay khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản cố định (thiết bị, nhà xưởng) 2.1.Vòng quay khoản phải thu www.giangblog.com 11

12 ページ

Vòng quay khoản phải thu chỉ ra công ty đã thu được tiền từ bán hàng nhanh hay chậm. Hầu hết các công ty đều bán hàng hóa, dịch vụ không thu tiền mặt ngoại trừ một số công ty đặc thù phân phối bán lẻ giao dịch trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng. Việc đánh giá chỉ số này tốt hay xấu còn tuỳ thuộc vào điều khoản bán hàng của công ty. Nếu số ngày phải thu bình quân ít hơn số ngày bán chịu được quy định trong điều kiện bán hàng của công ty thì đó là dấu hiệu tốt và ngược lại. 2.2. Vòng quay hàng tồn kho Việc kiểm tra vòng quay hàng tồn kho đưa đến hai quan điểm trái ngược nhau. Các công ty thích bán được càng nhiều hàng càng tốt, với số ngày hàng tồn kho thấp nhất. Việc tăng tỷ suất quay vòng hàng hoá giữa các chu kỳ cho thấy chi phí dành cho hàng tồn kho giảm đi. Mặc khác, những nhà quản lý không muốn hàng tồn kho quá ít mà ngược lại, muốn duy trì số ngày tồn kho cao để đáp ứng nhu cầu của khách hàng kịp thời. Việc tăng tỷ suất quay vòng hàng hoá có thể là tín hiệu của việc mất khách hàng, do vậy đó là cái giá phải trả cho những lợi ích đạt được của việc giảm chi phí đầu tư cho hàng hoá tồn kho. Một số nhà phân tích sử dụng tử số là doanh thu thay vì giá vốn hàng bán. Việc sử dụng tử số là doanh thu sẽ đưa đến việc đo lường không chính xác tỷ suất quay vòng hàng tồn kho để tính số ngày trung bình lượng hàng tồn kho sẵn sàng để bán. 2.3.Vòng quay tài sản tài sản cố định Một số nhà phân tích cho rằng nghịch đảo của tỷ số này hữu ích trong việc so sánh tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty khác nhau. Nó cho thấy số tiền cần phải đầu tư vào tài sản cố định để có một đồng doanh thu doanh thu. Cần phải cẩn trọng trong việc diễn giải các thay đổi trong tỷ số này. Các công ty thường đầu tư vào thiết bị nhà xưởng trước khi tài sản này tạo ra doanh thu từ các sản phẩm sản xuất ra. Như vậy, một tỷ lệ quay vòng thấp hoặc giảm có thể cho thấy một công ty đang mở rộng sản xuất để chuẩn bị cho sự phát triển trong tương lai. Mặt khác, một sự gia tang vòng quay tài sản cố định có thể đến từ việc cắt giảm vốn đầu tư vào thiết bị, nhà xưởng. 3. Phân tích khả năng sinh lời 3.1. ROA – tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA đo lường hoạt động của công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập (độc lập với việc huy động vốn để mua các tài sản đó). Mỗi công ty đều có 3 hoạt động chủ yếu : đầu tư, tài trợ và sản xuất kinh doanh. ROA kết nối các kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh với hoạt động đầu tư tài sản của công ty, không kể đến việc công ty dùng nguồn vốn nào để phục vụ cho hoạt động đầu tư và sản xuất của mình. Như vậy, ROA cố gắng đo lường thành công của một công ty trong việc sản xuất và bán hàng hóa cũng như cung cấp dịch vụ cho khách hàng - các hoạt động này chủ yếu là trách nhiệm của những người phụ trách sản xuất và marketing. www.giangblog.com 12

13 ページ

Giống như việc tính toán của hầu hết các tỷ số sinh lợi, ROA lấy thu nhập hoặc kết quả kinh doanh chia cho các tài sản hoặc vốn cần để tạo ra nó. Công thức ROA được khuyến nghị sử dụng ROA = Thu nhập ròng + Chi phí lãi vay / Tổng tài sản bình quân. Ở tử số, ROA sử dụng thu nhập trước khi phân phối cho người cung cấp vốn ( cả chủ nợ lẫn chủ sở hữu). Bởi vì các công ty tính toán thu nhập ròng sau khi trừ chi phí lãi vay, các nhà phân tích cần phải cộng lại chi phí lãi vay vào thu nhập ròng nếu phần tử số không tính đến chi phí huy động vốn. Ở mẫu số, chúng ta đang tính toán tỷ suất lợi nhuận cho cả năm nên lượng đầu tư ở mẫu số cần phản ảnh lượng tài sản trung bình được sử dụng trong suốt cả năm. Khi chỉ có trong tay bảng cân đối tài sản thì chưa có một con số hoàn chỉnh nhưng có thể chấp nhận được cho tổng tài sản bình quân là trung bình cộng của số dư đầu năm và cuối năm. ROA đặc biệt được các chủ nợ của công ty chú ý. Họ là những người có quyền ưu tiên trên tài sản của công ty trước những người chủ sở hữu. Công ty phải trả lãi vay trước khi chia lợi nhuận cho cổ đông. Khi cung cấp các khoản nợ cho công ty, những người cho vay muốn chắc chắn rằng công ty có thể tạo ra mức sinh lời vượt trội hơn so với chi phí của nó nên ROA là mối quan tâm hàng đầu của họ. Đối với các cổ đông, họ sử dụng ROA như một công cụ hữu ích khi đánh giá tác dụng củả đòn bẩy tài chính và năng lực quản trị tài chính của ban lãnh đạo công ty. Trong phân tích ROA, nổi tiếng và phổ biến nhất vẫn là phân tích Dupont đa lớp: ROA = (Thu nhập ròng + Chi phí lãi vay đã khấu trừ thuế/ Doanh thu) x (Doanh thu / Tổng tài sản bình quân) = Tỷ suất lợi nhuận biên x ( Tỷ suất quay vòng tổng tài sản) Các công ty cải thiện ROA bằng cách tăng tỷ suất lợi nhuận biên hoặc vòng quay tài sản, hoặc cả hai. Các công ty có thể có sự linh động khi thay đổi thành tố này hoặc thành tố khác. Ví dụ, công ty bán sản phẩm hàng hóa trong một thị trường cạnh tranh cao sẽ ít có cơ hội để tăng tỷ suất lợi nhuận biên. Có lẽ công ty cần phải cải thiện vòng quay tài sản ( như kiểm soát chặt chẽ hàng tồn kho ...) để tăng ROA. Với các công ty hoạt động trong lĩnh vực cần đầu tư tài sản lớn sẽ bị hạn chế khả năng quay vòng tài sản. 3.2. ROA – tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường: Khác với ROA, ROE có xem xét đến chi phí huy động vốn. Như vậy, ROE là sự kết hợp của hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư và các quyết định huy động vốn ROE = Thu nhập ròng - Cổ tức ưu đãi / Bình quân vốn cổ phần thường *Mối liên hệ giữa ROA và ROE www.giangblog.com 13

14 ページ

ROA đo lường khả năng sinh lợi của công ty trước khi trả bất kỳ một khoản nào cho người cung cấp vốn. Lợi nhuận được tạo ra từ tài sản phải được tính toán phân chia theo phần đóng góp của các nhà cung cấp vốn khác nhau. Phần lãi chia cho người cho vay bằng mức lãi theo thỏa thuận hợp đồn. Phần chia lãi cho cổ đông ưu đãi, nếu có, sẽ bằng với cổ tức ưu đãi. Phần còn lại của cổ đông thường. Cổ đông thường thu được mức sinh lợi cao hơn nhưng họ phải chịu nhiều rủi ro hơn. Rủi ro này phát sinh từ nợ nần của công ty và trách nhiệm phải trả một khoảng tiền cố định trong một thời điểm cố định. Hiện tượng này được gọi với cái tên là ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH. III. ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ KHI PHÂN TÍCH CHỈ SỐ TÀI CHÍNH: Ưu điểm * Phân tích các chỉ số tài chính sẽ giúp nhà đầu tư thấy được điều kiện tài chính chung của doanh nghiệp, đánh giá doanh nghiệp hiện đang hoạt động tốt và có lợi thế trong kinh doanh hay đang gặp rủi ro, thua lỗ. Đồng thời có những so sánh quan trọng về kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế, lĩnh vực ngành của doanh nghiệp, các đơn vị cạnh tranh chủ yếu trong phạm vi ngành, kết quả hoạt động trước đây của công ty... Từ đó giúp nhà đầu tư có quyết định đầu tư chính xác hơn. * Việc phân tích chỉ số tài chính của doanh nghiệp và so sánh với chỉ số tài chính của các doanh nghiệp khác khá đơn giản, vì số liệu phân tích dựa trên các báo cáo tài chính sẵn có và công thức tính toán cũng không phức tạp. * Đối với nhà quản lý, thông qua phân tích các chỉ số tài chính sẽ thấy được tình trạng tài chính và hoạt động của công ty, điểm yếu, điểm mạnh của công ty và so sánh mức độ tốt xấu với hệ số của các đối thủ cạnh tranh. Khi các hệ số này thấp hơn chuẩn mực ở một mức nhất định sẽ có giải pháp kiểm soát, khắc phục kịp thời, trước khi phát sinh các vấn đề nghiêm trọng. * Phân tích các chỉ số tài chính cũng cho thấy mối quan hệ đầy đủ, ý nghĩa hơn giữa các giá trị riêng lẻ trong báo cáo tài chính hay hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa các bảng số liệu trong báo cáo tài chính (ví dụ, để tính toán chỉ số thu nhập trên đầu tư của một doanh nghiệp, cần lấy số liệu tổng tài sản từ bảng cân đối kế toán và số liệu lợi nhuận ròng từ báo cáo kết quả kinh doanh). Hạn chế * Các chỉ số tài chính chỉ cung cấp một phần thông tin cần thiết để đánh giá hoạt động và hiệu quả chung của một doanh nghiệp, trong khi để có được một bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính cần rất nhiều yếu tố khác. * Phân tích chỉ số tài chính dựa trên những số liệu hiện tại và quá khứ của doanh nghiệp. Vì thế, sử dụng các chỉ số tài chính để phán đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp đó www.giangblog.com 14

15 ページ

chưa chắc sẽ chính xác, vì có thể những số liệu phản ánh trong quá khứ sẽ không còn đúng với những biến động tiếp theo. Hơn nữa, đối với những doanh nghiệp mới hoạt động thì việc phân tích các chỉ số này không có nhiều ý nghĩa. * Việc so sánh các chỉ số tài chính với doanh nghiệp trong ngành không phải bao giờ cũng chính xác, bởi bản thân vấn đề phân loại doanh nghiệp theo ngành cũng không đơn giản. Hơn nữa, quy mô hoạt động, thời gian hoạt động, chiến lược… của các doanh nghiệp trong một ngành thường khác nhau. Điều này có thể dẫn đến sai lệch khi so sánh các hệ số của công ty với hệ số của ngành. Ngoài ra, số liệu phân tích có thể bị méo mó khi các công ty tìm cách làm đẹp những con số của mình bằng những thủ thuật kế toán (như giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nợ khó đòi, không ghi nhận chi phí khi tài sản giảm giá xuống dưới giá trị thuần...). Mặc dù nghiệp vụ kế toán đã được cải tiến nhằm giải quyết các vấn đề này, nhưng có nhiều cách giải thích và phương pháp khác nhau trong việc lập các báo cáo tài chính có thể che giấu điểm mạnh hay điểm yếu thực tế của một công ty. Do vậy, phân tích một doanh nghiệp dựa trên cơ sở các hệ số tài chính cần thận trọng và phải tính đến những hạn chế có liên quan đến các hệ số này. www.giangblog.com 15

最初の15ページを表示しています。全文を見るには資料をダウンロードしてください。

コメント (0)

ログイン して議論に参加する

まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!