Cách tiếp cận những đối tượng khó thu thuế (Fullbright)

THThiNganHang
ダウンロード数: 0
14
0

プレビューを生成中...

資料の内容

1 ページ

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Tài chính công Thu thuế tại các nước đang phát triển Niên khoá 2005-2006 Bài đọc Ch 25 Tiếp cận những đối tượng khó thu thuế TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ Hiếm có những chuyên gia thuế nào trải qua hơn một ngày tại một đất nước đang phát triển mà không nghe những câu chuyện buồn về nỗi khó khăn to lớn người ta phải đương đầu trong việc thu thuế những người hành nghề chuyên môn (các bác sĩ, luật sư vv…), những người kinh doanh nhỏ, và dĩ nhiên cả những chủ trại khấm khá rơi vào phạm vi pháp lý của thuế thu nhập (Taylor, 1967). Như một qui luật, những người này chủ yếu hoạt động trong một nền kinh tế tiền mặt. Họ không sẵn lòng cung cấp bất kỳ thông tin gì về hoạt động của họ cho cơ quan thuế, và cơ quan thuế thật khó khăn trong việc truy tìm những thông tin đó – đôi khi vì những lý do chính trị, nhưng đôi khi chỉ đơn thuần vì người nộp thuế thực sự không có hồ sơ lưu trữ thông tin. Hơn nữa, cơ quan thuế cũng gặp khó khăn tương tự trong việc xây dựng bất kỳ một cơ sở nào khác để dựa vào đó mà đưa thu nhập của những người khét tiếng là khó thu thuế này vào trong phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập. Kết quả là những người làm công ăn lương tại các nước đang phát triển nói chung sẽ cảm thấy bị đánh thuế thái quá, và rất thường xuyên bị đánh thuế thái quá so với những người tự làm chủ. Một hành động phản ứng trước tình thế này là triển khai loại thuế thu nhập “lập biểu” đã được mô tả và phê phán trong chương 17. Một phản ứng khác nữa là ra sức cân đối sự rộng rãi không được mong đợi dành cho những người tự làm chủ bằng một sự rộng rãi đền bù cho những người làm công; ví dụ thông qua việc tạo ra một hệ thống dự phòng miễn thuế đặc biệt như từng thịnh hành ở Jamaica trước cuộc cải cách thuế gần đây (Alm và Bahl, 1985). Phương pháp thứ ba, được mô tả trong chương trước, là khôi phục thế cân bằng không phải bằng cách hạ thấp thuế đối với những người làm công ăn lương mà là tăng thuế đối với những người tự làm chủ (và những người hưởng thu nhập từ vốn) thông qua ban hành “thuế tối thiểu” tổng quát. Những khoản thuế như vậy đã tiến tới đóng một vai trò quan trọng ngay cả tại những nước phát triển như Hoa Kỳ và Canada trong những năm gần đây, và lập luận thiên về phía các loại thuế này xem ra mạnh hơn rõ ràng tại các nước phát triển. Một phương pháp có liên quan nhưng tương đối khác biệt về nguyên tắc mà cũng đi đến cùng một mục đích sẽ được mô tả trong đoạn trích sau đây từ một báo cáo về Bolivia. Về cơ bản, phương pháp này cốt yếu là triển khai những kỹ thuật “hợp lý” đặc biệt để ước lượng thu nhập trong các ngành khác nhau. Phương pháp này, có lẽ đã được triển khai sâu rộng nhất ở Israel (Lapidoth, 1977), cũng đã được vận dụng trong những chừng mực khác nhau và với mức độ thành công khác nhau ở nhiều nước khác (Bird, ThiNganHang.com1983; Tanzi và Casanegra, 1987). Phgmô ttiầến nht cảần phkhá chi tiư là sải thayự cầến thit cách thđổiếđểt – cphù hức tiủa mếợn tộp vt phới thớầi tình huươn chực hing pháp nhọn lện phốọng, nhc sauươưng phápđưthây trình bày cácng phế tại mươđó. Cho dù rõ ràng là các chiộng pháp chung trình bàyt nướcưđuang phát triđiểm – quảển, vàthật,ở đây xem ra đáng được chú ý kỹ lưỡng tại nhiều quốc gia. Xem ra chúng ta cũng cần bổ sung thêm hai nhận xét chung về phương pháp hợp lý mà đã được tán thành ở đây. Thứ nhất, như đã đề cập trong lời giới thiệu của phần này, điều quan trọng là phân biệt rõ ràng phương pháp này với hệ thống “thuế khoán” có bề ngoài khá tương tự. Trong cả hai phương pháp này, thu nhập đều được ước lượng trên cơ R. M. Bird & O. Oldman 1 Biên dịch: Kim Chi ThiNganHang.com

2 ページ

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Tài chính công Thu thuế tại các nước đang phát triển Ch Bài đọc 25 Vươn tới những người khó thu thuế sở những yếu tố “khách quan” như của cải hay doanh thu. Tuy nhiên, trong hệ thống thuế khoán, như được áp dụng tại hầu hết các thuộc địa trước đây của Pháp chẳng hạn, việc xác định nghĩa vụ thuế sau cùng được thương lượng giữa người nộp thuế và nhân viên thuế. Ngược lại, trong phương pháp hợp lý, nhiệm vụ của nhân viên thuế – cũng giống như người đánh giá thuế tài sản trong hệ thống thẩm định chung – chỉ đơn giản là ghi nhận các sự kiện về doanh thu hay sự kiện bất kỳ nào đó. Sau đó, nghĩa vụ thuế sau cùng được xác định trên cơ sở các chuẩn mực của ngành bởi một nhân viên hoàn toàn khác (có thể được cho là có năng lực kỹ thuật hơn cũng như ít có liên quan cá nhân hơn), hay một nhóm các nhân viên khác. Nói cách khác, phương pháp hợp lý là thuế trực thu tương đương, với sự tách biệt giữa các chức năng phân loại và đánh giá, mà một số người (như Carson, 1972) xem là cơ sở cho việc quản lý hải quan hiện đại. Dĩ nhiên, hệ thống vẫn có thể bị lũng đoạn bởi những nhân viên tham nhũng và những người nộp thuế kiên quyết, nhưng cơ hội của sự quản lý tồi rõ ràng đã giảm bớt. Điểm thứ hai về hệ thống hợp lý là: thuế tính ra có thể được gọi là “thuế thu nhập” chỉ là một vấn đề về sự thuận tiện pháp lý mà thôi. Quả thật là thu nhập xác định được (ước lượng được) có thể được kết hợp với thu nhập từ những nguồn khác và phải chịu thuế suất thuế thu nhập thông thường, nhưng tác động thực sự của khoản thuế hợp lý rõ ràng là dành cho những đối tượng mà thu nhập đã được ước lượng (Morag, 1957). Điều này có cả khía cạnh xấu và khía cạnh tốt. Một mặt, những khoản thuế dựa trên sự thay thế lao động hay số người lao động rõ ràng có thể có những ảnh hưởng không đáng mong đợi – khuyến khích việc chồng thuế và không khuyến khích việc tuyển dụng chẳng hạn. Mặt khác, vì người ta ước lượng thu nhập theo những yếu tố như vậy, và thuế suất được xác định theo các chuẩn mực của ngành ứng với mức thu nhập đó, cho nên thuế suất biên đối với sinh lợi trên mức bình quân là bằng không. Nói cách khác, những khoản thuế hợp lý, cũng như thuế đất nông nghiệp mà từ lâu đã được một số người đề xướng (Gandhi, 1966), phát huy áp lực đối với người nộp thuế khiến họ đạt thành quả hoạt động chí ít cũng phải trên tiêu chuẩn bình quân, và mang lại một động cơ khiến họ hoạt động nhiều hơn nữa. Dĩ nhiên, sự tương đương với một khoản thuế gộp có tính luỹ tiến về lý thuyết này cũng sẽ gặp phải những vấn đề trên thực tế giống như thuế đất nông nghiệp (tìm đọc tài liệu của Bird, 1974 và chương 35 sau đây). Tuy nhiên, như Shoup đã đề xuất trong chương 3 trên đây, điều đáng chú ý là chúng ta sẽ xem thử sự bố trí quản lý được thôi thúc bởi một nhu cầu cấp thiết sẽ giúp ta tiến gần đến cái mà có thể được xem là một hình thức thu thuế lý tưởng đối với các quốc gia đang phát triển như thế nào. ThiNganHang.com R. M. Bird & O. Oldman 2 Biên dịch: Kim Chi ThiNganHang.com

3 ページ

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Tài chính công Thu thuế tại các nước đang phát triển Ch Bài đọc 25 Vươn tới những người khó thu thuế ĐÁNH THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NHỮNG NHÓM NGƯỜI KHÓ THU THUẾ Richard A. Musgrave Các nhà quản lý thuế trên khắp thế giới nhận thấy khó mà đánh thuế các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, những người hành nghề chuyên môn, và các chủ trang trại. Nhu cầu xử lý với một số đông những người nộp thuế cá nhân dẫn đến chi phí quản lý cao, mà cuối cùng có thể lớn hơn số tiền thực tế thu được. Hơn nữa, việc quản lý khó khăn vì phần đông những người nộp thuế này, đặc biệt là trại chủ và các doanh nghiệp nhỏ, cảm thấy thật phiền toái khi duy trì sổ sách kế toán. Ngay cả nếu có sổ sách kế toán, các viên chức thuế cũng không có bằng chứng để đánh giá tính chính xác của sổ sách. Đứng trước những vấn đề này và với nguồn lực hạn chế, các nhà quản lý thuế có xu hướng bỏ qua nhóm người khó thu thuế này và cảm thấy có lợi hơn khi bỏ công sức vào một số lượng ít hơn những người nộp thuế nhiều. Cho dù thái độ này có thể lý giải được trên thực tế, nhưng tính công bằng và số thu ngân sách tiềm năng đòi hỏi phải có những nỗ lực nghiêm ngặt để thu thuế những người này. Chúng tôi đề nghị rằng tất cả những người nộp thuế nên được chia thành những nhóm sau đây: 1. Những người nộp thuế rất nhỏ có thể được miễn thuế. 2. Những người nộp thuế nhỏ, nên chịu một khoản thuế hợp lý thay cho toàn bộ thuế thu nhập khác và thuế doanh thu. 3. Tất cả những người nộp thuế khác nên phụ thuộc vào hệ thống kê khai thuế thu nhập thông thường. Tuy nhiên, trong chủng loại này, nên phân biệt giữa: a. Nhóm những người khó thu thuế; đối với họ, chúng tôi đề xuất một hệ thống xem xét dựa vào thu nhập ước lượng; và b. Tất cả những người khác, những người này sẽ được yêu cầu lập tờ khai thuế phù hợp dựa vào việc ghi chép sổ sách và hồ sơ đầy đủ. Phương pháp hợp lý (cho nhóm 2 trên đây) là phương pháp đơn giản nhất và do đó nên được áp dụng cho một số đông những người nộp thuế nhỏ. Phương pháp này chia số người nộp thuế nhỏ thành nhiều phân nhóm khác nhau rồi qui một khoản thu nhập cho từng phân nhóm này, và thu nhập được qui cho một phân nhóm nhất định sẽ được áp dụng cho toàn bộ thành viên của phân nhóm đó. Thu nhập ấn định này được qui ra ở mức độ dè dặt sao cho khi xét bình quân, thu nhập ấn định sẽ thấp hơn thu nhập thực tế.i Tính ThiNganHang.comđơn giản của hệ thống này là nhằm hạn chế đến mức tối thiểu chi phí quản lý, đồng thời mang đến một số thu thuế tối thiểu hợp lý. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng là chuyển nhóm người nộp thuế này vào hệ thống thu nhập ấn định và điều hoà hệ thống thuế thu nhập. Trong phương pháp ước lượng, những người nộp thuế (trong nhóm 3 trên đây) được yêu cầu phải nộp tờ khai thuế và kê khai thu nhập của mình. Nếu khi xem xét tờ khai thuế và việc thanh toán thuế của người nộp thuế mà nhân viên thuế nhận thấy người nộp thuế kê khai thu nhập thấp hơn mức ước lượng, thì thuế được áp đặt trên cơ sở thu nhập ước lượng. Một lần nữa, người nộp thuế cũng được chia thành các phân nhóm, nhưng không phải toàn bộ những người nộp thuế trong một phân nhóm đều phải nộp cùng R. M. Bird & O. Oldman 3 Biên dịch: Kim Chi ThiNganHang.com

最初の3ページを表示しています。全文を見るには資料をダウンロードしてください。

コメント (0)

ログイン して議論に参加する

まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!