Quản lý và Tổ chức sản xuất trong Công nghiệp Tàu Thuỷ
- Pages
- 20
- Format
- Taille
- 907 KB
- Langue
- VI · Tiếng Việt
- Vues
- 1 365
- Commentaires
- 0
- Lượt tải
- 1
Génération de l'aperçu...
- Nom du document
- Quản lý và Tổ chức sản xuất trong Công nghiệp Tàu Thuỷ
- Table des matières
- Ce document n'a pas de table des matières claire.
- Pages
- 20 pages
- Téléversé par
- ThiNganHang
Un résumé détaillé est en cours de génération. Veuillez vérifier dans quelques minutes.
Description
Trích nội dung tài liệu
VAD Công nghệ nhóm (GT & WBS) SPMan-24 / 1 (Slide) QUẢN LÝ & TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG CN TÀU THUỶ 6. CÔNG NGHỆ NHÓM (GT & WBS) 6.1. Sơ lược Chủ đề này hướng đến quản lý, tổ chức sản xuất tự động hoá với sự hổ trợ của máy tính và công nghệ nhóm. Thường thì khi nói đến công nghệ nhóm, ta hay đơn giản cho đó là các kỹ thuật nhằm tổ chức lại các tiến trình sản xuất độc lập trong một hệ thống sản xuất lớn hơn, do đó chỉ cần có phương pháp phân loại và mã số hoá nhằm giúp phân biệt các bán thành phẩm và sản phẩm trong suốt tiến trình sản xuất. Điều này cũng dễ hiểu, vì trong phương thức sản xuất công nghiệp hoá có rất nhiều đầu vào, đầu ra trong các tiến trình sản xuất khác nhau, đầu ra của tiến trình trước là đầu vào của tiến trình tiếp theo. Yêu cầu phải có phương pháp nhận diện sản phẩm và hệ thống hoá các kinh nghiệm tích luỹ được trong sản xuất. Thật ra, công nghệ nhóm, theo nghĩa rộng, là phương thức tổ chức lại toàn bộ tiến trình tác nghiệp của doanh nghiệp sao cho mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khái niệm mang tính kinh tế này linh hoạt hơn và thể hiện được mối tương quan không chỉ trong bộ phận sản xuất mà còn giữa các bộ phận khác trong toàn doanh nghiệp. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu một vài vấn đề có liên quan đến mô hình hệ thống sản xuất phù hợp và các mối liên quan của nó đến sản lượng, tiến trình sản xuất, và nguyên vật liệu. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét đến các khái niệm công nghệ nhóm và các phương pháp phân loại và mã số hoá. Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về các phương cách mà doanh nghiệp ứng dụng các khái niệm này trong ngành công nghiệp tàu thủy. VAD Công nghệ nhóm (GT & WBS) SPMan-24 / 2 (Slide) 6.2. Doanh nghiệp và các mô hình hệ thống sản xuất 6.2.1. Trước đây, việc sản xuất được thực hiện không theo hệ thống, sản phẩm do các thợ thủ công tự làm ra hoặc trong các phường thợ. Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp 1850, việc sản xuất được thực hiện trong phạm vi tập trung, với quy mô nhỏ - xưởng thợ dần dần lớn lên thành các nhà máy. Các công nghệ sản xuất cũng dần dần được hình thành, các nhà máy đã bao gồm một vài tiến trình sản xuất riêng lẻ liên kết với nhau hình thành nên một hệ thống sản xuất liên hoàn. Một hệ thống sản xuất truyền thống được hỗ trợ bởi các tổ chức nghiệp vụ được hình thành trong phạm vi doanh nghiệp. Các tác nghiệp của các tổ chức này được liên kết với nhau bởi một kế hoạch sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp trong phạm vi ngắn hạn hoặc trung hạn. Thí dụ như hệ thống sản xuất trong một nhà máy đóng tàu theo module - tổng đoạn chính, được thể hiện trong Hình 6.1 dưới đây. Hình 6.1 Các đầu vào được đi qua các tiến trình sản xuất phù hợp ở các phân xưởng: plate shop (vật liệu dạng tấm) và section shop (vật liệu khung sườn). Các tổng thành sau khi qua các khâu lắp ráp như cụm chi tiết tấm phẳng (FPL-flat panel line), cụm chi tiết tấm cong (CPA- curved panel assembly) và lắp phân đọan (SA- sub assembly) sẽ tiếp tục đi qua các tiến trình: lắp thêm chi tiết kết cấu phụ lên cụm chi tiết (PO- panel outfitting), lắp ráp tổng đoạn (MA- module assembly), sơn tổng đoạn (MP- module painting), và lắp thêm chi tiết kết cấu phụ lên tổng đoạn (MO- module outfitting), trước khi tổng lắp tàu (SJ- ship joining). Cuối cùng đầu ra sẽ được hoàn tất để bàn giao cho khách hàng. VAD Công nghệ nhóm (GT & WBS) SPMan-24 / 3 (Slide) 6.2.2. Hệ thống sản xuất của doanh nghiệp không chỉ để phối hợp các đầu vào một cách có hiệu quả nhất, mà còn phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng một cách công hiệu nhất. Do đó tuỳ theo đặc tính yêu cầu của khách hàng mà hệ thống sản xuất phải được điều chỉnh mức sản lượng theo một trong các hướng sau: MTS (make-to-stock): Yêu cầu của khách hàng về sản phẩm, nhiều khi, không được thông báo trước cho doanh nghiệp. Do đó để kịp thời đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp phải “làm hàng-để-tồn kho” và chấp nhận giữ thành phẩm sẳn sàng để giao ngay cho khách hàng của mình. CTO (configure-to-order): Yêu cầu của khách hàng về sản phẩm được thông báo trước cho doanh nghiệp
Foire aux questions
Comment puis-je télécharger ce document ?
Le document « Quản lý và Tổ chức sản xuất trong Công nghiệp Tàu Thuỷ » coûte 3 000đ. Rechargez votre portefeuille via PayOS, puis cliquez sur Télécharger pour acheter et enregistrer le fichier original.
Combien de pages compte ce document ?
Le document contient 20 pages. Vous pouvez le prévisualiser en ligne avant de le télécharger.
Puis-je prévisualiser avant de télécharger ?
Oui. Vous pouvez prévisualiser ce document directement sur cette page avec le lecteur en ligne (les premières pages), puis décider de le télécharger ou non.
Quản lý và Tổ chức sản xuất trong Công nghiệp Tàu Thuỷ
Génération de l'aperçu...
Trích nội dung tài liệu
VAD Công nghệ nhóm (GT & WBS) SPMan-24 / 1 (Slide) QUẢN LÝ & TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG CN TÀU THUỶ 6. CÔNG NGHỆ NHÓM (GT & WBS) 6.1. Sơ lược Chủ đề này hướng đến quản lý, tổ chức sản xuất tự động hoá với sự hổ trợ của máy tính và công nghệ nhóm. Thường thì khi nói đến công nghệ nhóm, ta hay đơn giản cho đó là các kỹ thuật nhằm tổ chức lại các tiến trình sản xuất độc lập trong một hệ thống sản xuất lớn hơn, do đó chỉ cần có phương pháp phân loại và mã số hoá nhằm giúp phân biệt các bán thành phẩm và sản phẩm trong suốt tiến trình sản xuất. Điều này cũng dễ hiểu, vì trong phương thức sản xuất công nghiệp hoá có rất nhiều đầu vào, đầu ra trong các tiến trình sản xuất khác nhau, đầu ra của tiến trình trước là đầu vào của tiến trình tiếp theo. Yêu cầu phải có phương pháp nhận diện sản phẩm và hệ thống hoá các kinh nghiệm tích luỹ được trong sản xuất. Thật ra, công nghệ nhóm, theo nghĩa rộng, là phương thức tổ chức lại toàn bộ tiến trình tác nghiệp của doanh nghiệp sao cho mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khái niệm mang tính kinh tế này linh hoạt hơn và thể hiện được mối tương quan không chỉ trong bộ phận sản xuất mà còn giữa các bộ phận khác trong toàn doanh nghiệp. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu một vài vấn đề có liên quan đến mô hình hệ thống sản xuất phù hợp và các mối liên quan của nó đến sản lượng, tiến trình sản xuất, và nguyên vật liệu. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét đến các khái niệm công nghệ nhóm và các phương pháp phân loại và mã số hoá. Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về các phương cách mà doanh nghiệp ứng dụng các khái niệm này trong ngành công nghiệp tàu thủy. VAD Công nghệ nhóm (GT & WBS) SPMan-24 / 2 (Slide) 6.2. Doanh nghiệp và các mô hình hệ thống sản xuất 6.2.1. Trước đây, việc sản xuất được thực hiện không theo hệ thống, sản phẩm do các thợ thủ công tự làm ra hoặc trong các phường thợ. Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp 1850, việc sản xuất được thực hiện trong phạm vi tập trung, với quy mô nhỏ - xưởng thợ dần dần lớn lên thành các nhà máy. Các công nghệ sản xuất cũng dần dần được hình thành, các nhà máy đã bao gồm một vài tiến trình sản xuất riêng lẻ liên kết với nhau hình thành nên một hệ thống sản xuất liên hoàn. Một hệ thống sản xuất truyền thống được hỗ trợ bởi các tổ chức nghiệp vụ được hình thành trong phạm vi doanh nghiệp. Các tác nghiệp của các tổ chức này được liên kết với nhau bởi một kế hoạch sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp trong phạm vi ngắn hạn hoặc trung hạn. Thí dụ như hệ thống sản xuất trong một nhà máy đóng tàu theo module - tổng đoạn chính, được thể hiện trong Hình 6.1 dưới đây. Hình 6.1 Các đầu vào được đi qua các tiến trình sản xuất phù hợp ở các phân xưởng: plate shop (vật liệu dạng tấm) và section shop (vật liệu khung sườn). Các tổng thành sau khi qua các khâu lắp ráp như cụm chi tiết tấm phẳng (FPL-flat panel line), cụm chi tiết tấm cong (CPA- curved panel assembly) và lắp phân đọan (SA- sub assembly) sẽ tiếp tục đi qua các tiến trình: lắp thêm chi tiết kết cấu phụ lên cụm chi tiết (PO- panel outfitting), lắp ráp tổng đoạn (MA- module assembly), sơn tổng đoạn (MP- module painting), và lắp thêm chi tiết kết cấu phụ lên tổng đoạn (MO- module outfitting), trước khi tổng lắp tàu (SJ- ship joining). Cuối cùng đầu ra sẽ được hoàn tất để bàn giao cho khách hàng. VAD Công nghệ nhóm (GT & WBS) SPMan-24 / 3 (Slide) 6.2.2. Hệ thống sản xuất của doanh nghiệp không chỉ để phối hợp các đầu vào một cách có hiệu quả nhất, mà còn phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng một cách công hiệu nhất. Do đó tuỳ theo đặc tính yêu cầu của khách hàng mà hệ thống sản xuất phải được điều chỉnh mức sản lượng theo một trong các hướng sau: MTS (make-to-stock): Yêu cầu của khách hàng về sản phẩm, nhiều khi, không được thông báo trước cho doanh nghiệp. Do đó để kịp thời đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp phải “làm hàng-để-tồn kho” và chấp nhận giữ thành phẩm sẳn sàng để giao ngay cho khách hàng của mình. CTO (configure-to-order): Yêu cầu của khách hàng về sản phẩm được thông báo trước cho doanh nghiệp
- Nom du document
- Quản lý và Tổ chức sản xuất trong Công nghiệp Tàu Thuỷ
- Table des matières
- Ce document n'a pas de table des matières claire.
- Pages
- 20 pages
- Téléversé par
- ThiNganHang
Un résumé détaillé est en cours de génération. Veuillez vérifier dans quelques minutes.
Commentaires (0)
Aucun commentaire pour le moment. Soyez le premier !
240 câu hỏi Kinh tế học kèm Đáp án và Giải thích
Trắc nghiệm Kinh tế môi trường (Có Đáp án)
Trắc nghiệm Đúng Sai - Kinh tế phát triển (Có Đáp án)
Mẫu hợp đồng chuyên chở tàu chuyến GENCON 1994
Công thức lý thuyết thặng dư- Kinh tế chính trị Mác-Lenin
Tiểu luận - Kinh tế phát triển - Phân tích nhận định "Việt Nam đã kiên định chọn hướng phát triển lấy con người làm trọng tâm ..."
Đề cương - Luật vận tải
600 Câu trắc nghiệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tài liệu ôn tập Nguyên lý kế toán
Bài tập Xác suất thống kê đại học - có lời giải

Commentaires (0)
Aucun commentaire pour le moment. Soyez le premier !