[LV thạc sĩ] Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương - TG.Hồ Văn Trãi

UN
Uni24h
0 téléchargements
162
0

Contenu du document

Page 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN ---------------------------------------------------- HỒ VĂN TRÃI CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƢƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC Vĩnh Long - 2020

Page 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN ---------------------------------------------------- HỒ VĂN TRÃI CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƢƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƢƠNG Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng Mã số : 8320101.01(UD) LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Ngƣời hƣớng dẫn khoa học thạc sĩ khoa học PGS.TS Đặng Thị Thu Hƣơng TS. Trần Thị Tri Vĩnh Long - 2020

Page 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn“Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của TS. Trần Thị Tri, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc. Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình. Tác giả luận văn Hồ Văn Trãi

Page 4

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS. Trần Thị Tri, giảng viên hướng dẫn luận văn đã tận tình định hướng, chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Báo chí- Truyền thông, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học QGHN; cùng các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy trong suốt thời gian khóa học cao học, để giúp tôi có được kiến thức, kinh nghiệm thực hiện đề tài này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến lãnh đạo các Đài PT-TH Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu, các anh, chị BTV và các bạn đồng nghiệp cũng như công chúng đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tác giả luận văn 2

Page 5

MỤC LỤC Trang Phần mở đầu 5 Lý do chọn đề tài 5 Tình hình nghiên cứu đề tài 7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12 Phương pháp nghiên cứu 13 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 13 Kết cấu của luận văn 14 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN TỚI CÔNG CHÖNG CÁC CHƢƠNG TRÌNH PHÁT THANH VĂN NGHỆ 15 1.1. Một số khái niệm 15 1.2. Một số vấn đề lý luận về công chúng phát thanh 23 1.3. Đặc điểm vai trò của công chúng các chương trình PTVN tại ĐBSCL 35 1.4. Yêu cầu đối với PTVN nhằm phát triển công chúng mảng VN tại ĐBSCL 39 Tiểu kết chương 1 40 Chƣơng 2: KHẢO SÁT CÔNG CHÚNG ĐBSCL VỚI CHƢƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƢƠNG 42 2.1. Giới thiệu về các Đài trong diện khảo sát 42 2.2. Nội dung và hình thức thể hiện các chương trình văn nghệ được khảo sát 45 1

Page 6

2.3. Đánh giá của công chúng phát thanh về các chương trình phát thanh văn nghệ 57 2.4. Thành công, hạn chế của chương trình PTVN 70 Tiểu kết chương 2 84 Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT, PHÁT TRIỂN CÔNG CHÚNG CÁC CHƢƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT- TH ĐỊA PHƢƠNG KHU VỰC TÂY NAM BỘ 86 3.1. Các vấn đề đặt ra đối với việc thu hút, phát triển công chúng 86 3.2. Các giải pháp để thu hút và mở rộng các đối tượng phục vụ của PTVN 91 3.3. Một vài kiến nghị 100 Tiểu kết chương 3 106 KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO MỤC LỤC 2

Page 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Ban biên tập : BBT Biên tập viên : BTV Đờn ca tài tử : ĐCTT Cộng tác viên : CTV Đài Tiếng nói Việt Nam : Đài TNVN Đồng Bằng Sông Cửu Long : ĐBSCL Kỹ thuật viên : KTV Phát thanh truyền hình : PT-TH Phát thanh văn nghệ : PTVN Phát thanh viên : PTV Phỏng vấn : PV Văn hóa văn nghệ : VHVN Văn học nghệ thuật : VHNT 3

Page 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 2.1: Tần suất nghe Đài 51 Biểu đồ 2.2: Phương tiện nghe Đài của công chúng ĐBSCL 52 Bảng 2.21: Yêu cầu, mong muốn đối với chương trình văn nghệ 68 4

Page 9

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát thanh là một trong những phương tiện truyền thông năng động, có tính tương tác cao, thiết thực, gần gũi với cuộc sống, không chỉ cung cấp thông tin, mà còn là kênh văn hóa giải trí phục vụ rộng rãi công chúng. Người làm báo phát thanh ngày nay rất quan tâm đến những thói quen và sở thích của từng nhóm công chúng nghe Đài, không ngừng cải tiến về hình thức để các chương trình phát thanh ngày càng gần gũi hơn với thính giả, phù hợp với từng đối tượng nghe Đài, đáp ứng thị hiếu ở từng độ tuổi... Từ thực tế trong đời sống hiện đại con người vốn bận rộn và căng thẳng thì các chương trình văn nghệ ngày càng được quan tâm, có vị thế quan trọng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của con người. Văn nghệ còn là một hình thức để phản ánh hiện thực đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của con người đối với môi trường xã hội. Nếu như báo truyền hình mạnh về các chương trình vui chơi, giao lưu; báo in mạnh về truyện cười, câu đố vui, tranh biếm họa thì báo phát thanh có thế mạnh trong việc đem lời thoại và âm nhạc đến với con người, mang lại sự thư giãn, đẩy lùi căng thẳng, tái tạo sức lao động, làm giàu đời sống tinh thần của công chúng. Trong nhiều năm qua, đời sống văn hóa, văn nghệ ĐBSCL có nhiều khởi sắc. Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tham gia và thưởng thức các loại hình văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí thông qua nhiều hình thức, trong đó có các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh. Với tư cách là một kênh thông tin văn hóa, giải trí lành mạnh, trong thời gian qua, sóng phát thanh của các Đài PT-TH trong khu vực đã mang đến công chúng ĐBSCL nhiều món ăn tinh thần bổ ích, đa dạng, phong phú về nội dung và 6

Page 10

hình thức thể hiện. Công chúng có nhiều cơ hội tham gia các chương trình âm nhạc tương tác trực tiếp như: Quà tặng âm nhạc, Ca cổ theo yêu cầu, Tiểu phẩm, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêm khuya, ĐCTT, Sân khấu cải lương… mang nhiều sắc thái riêng, đáp ứng đời sống tinh thần, nhu cầu giải trí của đông đảo công chúng khu vực. Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chương trình phát thanh, để ra đời, trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng. Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũng đều cần phải căn cứ vào nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng. Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định. Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình. Công chúng còn là người tiếp nhận và đánh giá, thẩm định chất lượng của các chương trình phát thanh. Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình. Tuy nhiên, tại khu vực Tây Nam bộ chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thói quen, sở thích, mối quan tâm của công chúng nghe Đài đối với các chương trình văn nghệ trên các Đài địa phương. Các chương trình PTVN được sản xuất hầu hết chưa dựa trên nghiên cứu công chúng nên chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng cũng như những nhận xét, đánh giá của công chúng về chất lượng nội dung và hình thức thể hiện. Đặc biệt, công chúng hiện nay được tiếp cận nhiều nội dung văn nghệ tràn ngập trên không gian mạng và các hoạt động văn nghệ, giải trí trên thực tế cũng diễn ra với tần suất lớn, họ có nhiều sự lựa chọn cùng với các thiết bị nghe nhìn hiện đại. Cùng với đó là sự phát triển nhanh như vũ bão về công nghệ và sự cạnh tranh để thu hút công chúng giữa các loại hình báo chí, những tác phẩm PTVN sản xuất theo truyền thống không còn thu hút sự theo dõi và tham gia của người nghe. Thực tế này đòi hỏi chương trình PTVN cần xác định đối tượng công chúng và mục đích của 7

Page 11

chương trình để từ đó định hướng những công việc phải làm, sản xuất ra những chương trình văn nghệ thu hút đông đảo thính giả, đi vào lòng người nghe. Vì vậy việc nghiên cứu công chúng và những giải pháp phát triển, thu hút công chúng đang là một vấn đề cấp bách để làm căn cứ, hoạch định hoạt động của các chương trình PTVN trên nguyên tắc xác định rõ công chúng của mình là ai, họ mong muốn gì, hy vọng gì và chờ đợi điều gì từ phía các Đài PT-TH. Từ đó có phương án, kế hoạch, phục vụ công chúng của mình một cách hữu hiệu nhất. Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài “Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương” làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu * Nhóm các công trình nghiên cứu về công chúng báo chí - Năm 1998, Trần Hữu Quang tiến hành bảo vệ Luận án Tiến sĩ Xã hội học "Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh”. Luận án là công trình mang tính đại diện và nghiên cứu công chúng truyền thông, mức độ và cách thức tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tương quan giữa đọc báo, xem truyền hình và nghe Đài phát thanh, "các trục nội dung thường được theo dõi", "các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng", "sự tác động của một số nhân tố", những luận giải khoa học từ kết quả điều tra xã hội học. - Ở công trình “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” năm 2006, tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên, với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban đầu về công chúng, gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu. 8

Page 12

- Năm 2008, Trần Bá Dung đã bảo vệ Luận án Tiến sĩ với đề tài “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội”. Luận văn mô tả nhu cầu và mô thức tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, đồng thời, chỉ ra những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận này.Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án dự báo một số xu hướng vận động của nhu cầu và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động báo chí. - Bàn luận về công chúng báo chí - truyền thông trên bình diện lý thuyết xã hội học công chúng, tác giả Mai Quỳnh Nam có nhiều bài viết về lý luận và tác động của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội. Cụ thể là các bài nghiên cứu: “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” - Tạp chí Xã hội học số 1 năm 1996, “Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng” - Tạp chí Xã hội học số 2 năm 2000, “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng” - Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2001, “Xã hội hóa và truyền thông đại chúng” - Tạp chí nghiên cứu con người số 6 năm 2010. * Nhóm công trình nghiên cứu về phát thanh và công chúng phát thanh: - Sách chuyên luận “Nghề báo nói” của tác giả Nguyễn Đình Lương do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993. Nội dung sách gồm bảy phần, trong đó đã đề cập một cách tổng quát về đặc trưng, phương pháp, thể tài và những vấn đề thuộc về nguyên lý, kỹ năng và quy trình nghề báo phát thanh; phát thanh với thính giả v.v... - Giáo trình “Báo chí phát thanh” do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền và Đài TNVN viết (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại. - Sách “Lý luận báo phát thanh” của Đức Dũng (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2003) gồm 9 chương, trong đó đề cập đến những vấn đề của đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh. 8

Page 13

- Cuốn Báo phát thanh -lý thuyết và kỹ năng cơ bản của TS Đinh Thị Thu Hằng bàn về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp trong tương quan so sánh với phương thức sản xuất chương trình phát thanh truyền thống, đồng thời chỉ ra những yêu cầu của phương thức này. - Cuộc điều tra xã hội học của Đài TNVN và Ban Tư tưởng- Văn hoá Trung ương (2001), tiến hành trên 30 tỉnh, thành phố trong cả nước, cho thấy, mức độ, cách thức nghe Đài của thính giả, thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mức sống, nơi sống, học vấn... Tại mỗi tỉnh, thành phố điều tra những lý do thính giả không nghe Đài, những đánh giá chất lượng, nguyện vọng và đề xuất của thính giả. - Sách“Phương pháp điều tra thính giả” năm 2003 của Đài TNVN tập hợp một số chuyên luận của Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Văn Dững, Dương Xuân Sơn, Phạm Chiến Khu... vừa nêu rõ vai trò của điều tra dư luận xã hội, dư luận thính giả, vừa đề cập một số vấn đề về công chúng, lý luận về phương pháp và ngôn ngữ điều tra thính giả. - Sách “Báo Phát thanh” năm 2002 và sách “Công chúng phát thanh” của tác giả Nguyễn Văn Dững có định nghĩa khái niệm công chúng, các loại công chúng báo chí, vai trò công chúng, các nội dung và phương pháp nghiên cứu công chúng. * Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa- văn nghệ ĐBSCL: - Sách “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ”do Trần Ngọc Thêm chủ biên năm 2013, NXB Văn hóa- Văn nghệ; - Sách “Văn minh miệt vườn” của nhà văn Sơn Nam, 1992, NXB Văn học; Sách “Đồng Bằng Sông Cửu Long – Nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt vườn” của Sơn Nam, 1998, NXB Trẻ; - Sách “ĐBSCL qua vài nét văn hóa miệt vườn” của tác giả Nguyễn Văn Trần, 2000, NXB Văn hóa- Văn nghệ; 9

Page 14

- Công trình nghiên cứu “Dân ca Cửu Long” của các tác giả Lư Nhất Vũ- Nguyễn Văn Hòa- Lê Giang- Thạch An, Sở VHTT Cửu Long ấn hành năm 1986; - Sách “Ca nhạc cổ truyền”, Lê Văn Ngưu biên soạn, NXB Văn nghệ TPHCM, 1995; Các sách và công trình trên nghiên cứu một cách toàn diện về ĐBSCL qua nét sinh hoạt truyền thống và nền văn minh sông nước, những giá trị văn hóa tinh thần của một bộ phận người đã tạo nên diện mạo của một vùng đất này; Các giải pháp khắc phục thực trạng đời sống văn hóa, văn nghệ trong hiện tại, từng bước củng cố, xây dựng chiến lược phát triển con người trên cơ sở xây dựng lối sống văn hóa mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. * Nhóm các công trình nghiên cứu về phát thanh địa phương và PTVN địa phương: - Luận văn thạc sĩ của Trần Hoàng Kiệm chuyên ngành báo chí học, Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2015), “Đổi mới phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp của Đài Phát thanh -Truyền hình Vĩnh Long hiện nay”. Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, luận văn khảo sát một cách có hệ thống về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT-TH Vĩnh Long. - Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Diễm chuyên ngành báo chí học, Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2009),“Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL”. Đây là đề tài khảo sát một cách có hệ thống về chất lượng các chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL, là bức tranh thực tế sinh động về các chương trình phát thanh Đài tỉnh Bắc Sông Hậu có thể tạo ra những so 10

Page 15

sánh cần thiết cho các Đài ở khu vực này có cơ sở tham khảo, đối chiếu và vận dụng để nâng cao chất lượng chương trình của mình. - Luận văn thạc sĩ báo chí học của Bùi Trọng Điển, Học viện Báo chí và tuyên truyền (2015), “Nghiên cứu nâng cao đặc trưng văn hóa miệt vườn sông nước Cửu Long trong các chương trình phát thanh của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL”. Luận văn đã chỉ rõ những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa miệt vườn sông nước Cửu Long để xây dựng các sản phẩm phát thanh, chương trình phát thanh tương thích, phù hợp hơn với văn hóa đặc trưng của người dân Nam Bộ của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL nói riêng và Đài TNVN nói chung. Các tài liệu, công trình nghiên cứu được tác giả luận văn tham khảo đã nêu ra những vấn đề nghiên cứu công chúng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông, đi sâu phân tích, tìm hiểu về đặc điểm, nhu cầu, mối quan hệ, thói quen, cách thức tiếp cận thông tin của công chúng đối với báo chí và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng nhu cầu xem truyền hình, nghe phát thanh và đọc báo của công chúng. Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh, đây vẫn còn là một đề tài đang bỏ ngỏ. Do đó, bản thân nhận thấy cần phải tiến hành nghiên cứu, khảo sát mức độ thưởng thức, khả năng đáp ứng và quá trình tham gia, phản hồi của công chúng đối với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH khu vực ĐBSCL. Từ kết quả trên, luận văn sẽ nhận diện được công chúng của chương trình, từ đó góp phần vào việc nâng cao hiệu quả phát sóng các chương trình văn nghệ phục vụ tốt hơn nhu cầu công chúng. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu 11

Page 16

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến công chúng, vai trò, đặc điểm, cách thức tìm hiểu về thói quen, nhu cầu, sở thích, cách thức tiếp cận công chúng và thu hút công chúng, luận văn tiến hành khảo sát công chúng các chương trình PTVN ở ĐBSCL để từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị mang tính khả thi cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thưởng thức văn nghệ và phát triển, mở rộng công chúng văn nghệ ở khu vực ĐBSCL. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây: - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công chúng phát thanh, xây dựng khung lý thuyết để làm cơ sở cho việc khảo sát; - Mô tả, khảo sát và phân tích làm rõ được thực trạng tiếp nhận chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của công chúng khu vực ĐBSCL; Cách thức các Đài PT-TH tiếp cận, thu hút công chúng; - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút, phát triển công chúng với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương khu vực Tây Nam bộ. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là công chúng ĐBSCL, các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là các nhóm công chúng ĐBSCL đang sinh sống và làm việc tại khu vực thành thị và nông thôn các tỉnh trong diện khảo sát; Các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh được nhiều người yêu thích của các Đài PT-TH Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu (Quà tặng âm nhạc, 12

Affichage des 16 premières pages. Téléchargez le document pour le voir en entier.

Commentaires (0)

Se connecter pour rejoindre la discussion

Aucun commentaire pour le moment. Soyez le premier !