CDS_va_MBS

THThiNganHang
0 downloads
10
0

Generating preview...

Document content

Page 1

Chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp (MBS) và Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS) - Hai công cụ chứng khoán phái sinh chủ yếu gây ra khủng hoảng tài chính năm 2008 và gợi ý chính sách giám sát tài chính Phòng Phân tích và Dự báo thị trường - Trung tâm NCKH-ĐTCK (UBCKNN) Từ cuối năm 2008-đầu năm 2009, hệ thống tài chính-ngân hàng của Mỹ đột nhiên rơi vào tình trạng khủng hoảng chưa từng có. Hàng nghìn tỷ USD đã tiêu tan nhanh chóng, gây hiệu ứng lan tràn đến nền kinh tế toàn cầu và cho đến nay hậu quả vẫn chưa lường hết được. Đến nay ở trong nước đã có nhiều bài viết đề cập đến nguyên nhân trực tiếp cũng như nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính này. Tuy nhiên, hầu hết vẫn chưa kết nối và nêu bật nguồn gốc của vấn đề. Bài viết này tập trung phân tích hai công cụ chứng khoán phái sinh là MBS và CDS và vai trò của chúng - là các công cụ cốt lõi nhất dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Chính các loại hình chứng khoán phái sinh này đã dẫn đến sự sụp đổ của hoạt động cho vay dưới chuẩn, châm ngòi cho khủng hoảng tài chính bùng phát và kéo theo sự suy sụp của hàng loạt các ngân hàng và công ty bảo hiểm trên thị trường tài chính Mỹ. Qua việc tìm hiểu hai loại chứng khoán phái sinh này, bài viết cũng rút ra một số gợi ý đối với chính sách quản lý và giám sát thị trường tài chính nói chung. 1. Chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp (MBS) và nguy cơ tiềm ẩn 1.1. Hoạt động cho vay dưới chuẩn - tiền đề ra đời MBS Hoạt động cho vay thế chấp bất động sản ở Mỹ bắt đầu phát triển mãnh mẽ từ những năm cuối của thế kỷ trước. Trong những năm này, rất nhiều người cho rằng giá bất động sản vẫn chưa phục hồi sau cuộc suy thoái kinh tế Mỹ những năm đầu 1990 và dự báo rằng giá sẽ tiếp tục tăng lên nữa. Do vậy, thị trường bất động sản như một món hời và là kênh đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận cao, thậm chí là rất cao. Cũng trong thời gian này, Chính phủ Mỹ dưới thời của cựu Tổng thống Bill Clinton đã đưa ra những quy định, tạo sức ép lên các ngân hàng buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà. Và thế là dịch vụ kinh doanh cho vay mua nhà thế chấp nở rộ và phát triển mạnh mẽ trong nước Mỹ và sau đó nhanh chóng lan ra toàn cầu. Từ 1

Page 2

đó bắt đầu xuất hiện cụm từ “cho vay thế chấp dưới chuẩn” (sub-prime mortgage). Cho vay thế chấp dưới chuẩn là một loại hình cho vay mà bên vay vốn là những người không đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn cơ bản để vay vốn. Theo đó, các chủ nợ nhận thức rõ ràng rằng chất lượng các khoản vay này là xấu và rủi ro tín dụng chủ yếu được bù đắp bằng lãi suất cao và tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp cho các khoản vay này thường chính là các bất động sản mà người vay vốn mua. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là các khoản vay thế chấp này thường được kéo dài thời gian trả nợ của người đi vay dẫn đến nhiều người có khả năng vay được tiền để mua nhà dựa trên nguồn trả là thu nhập trong tương lai. Giai đoạn 2001-2003, các khoản cho vay dưới chuẩn chiếm dưới 10% tổng giá trị các khoản cho vay thế chấp. Đến những năm 2004-2006, tỷ lệ này đã tăng lên mức 18-20%. Biểu đồ 1: Biến động tăng/giảm giá nhà đất tại Mỹ, so với năm trước Giai đoạn 1998-2009 Nguồn số liệu: S&P Từ đầu những năm 2000, khi mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) liên tục cắt giảm và duy trì lãi suất thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, việc dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay mua nhà thế chấp cùng với tâm lý tin tưởng vào việc giá nhà tiếp tục tăng đã làm gia tăng số lượng người đi vay dưới chuẩn. Thời điểm này, người tiêu dùng Mỹ cũng gia tăng chi tiêu bằng cách vay tiêu dùng từ các ngân hàng. Tổng nợ vay hộ gia đình đã tăng từ 705 triệu USD năm 1974 (tương đương 60% tổng thu nhập khả dụng) lên 7,4 tỷ USD năm 2000 và 14,5 tỷ USD cuối năm 2008 (tương đương 134% thu nhập khả dụng). Sự bùng nổ nguồn cung bất động sản đã dẫn đến sự dư thừa một khối lượng lớn các căn hộ không bán được. Từ cuối năm 2006, giá nhà đất trên thị 2

Page 3

trường bắt đầu giảm. Đồng thời lãi suất thị trường bắt đầu tăng trở lại do tăng trưởng kinh tế phục hồi và nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát cao. Khi đó, nhiều người đi vay gặp khó khăn trong việc trả nợ, thậm chí chấp nhận phá sản. Các ngân hàng tăng cường thu hồi và phát mại tài sản để thu hồi nợ đã cho vay. Biểu đồ 2: Số lượng tài sản bị thu hồi Nguồn: RealtyTrac Press Releases of “U.S. Foreclosure Market Report” Trong năm 2007, đã có khoảng 1,5 triệu tài sản nằm trong diện thu hồi và phát mại, tăng 80% so với năm 2006. Số tài sản loại này đã tăng lên gần 3 triệu trong năm 2008. Thời điểm tháng 8 năm 2008, 9,2% giá trị các khoản cho vay thế chấp nằm trong diện vi phạm nghĩa vụ thanh toán hoặc tài sản bị thu hồi phát mại. Việc tăng cường thu hồi và phát mại tài sản làm cho nguồn cung bất động sản cũng tăng theo, gây áp lực giảm giá nhà đất. Suy giảm thanh khoản và giá bất động sản quay lại tác động đến khả năng chi trả của người đi vay. Cái vòng luẩn quẩn này tiếp tục ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính và đó chính là trung tâm của cuộc khủng hoảng. Đến cuối năm 2008, giá nhà đất bình quân ở Mỹ đã giảm gần 30% so với thời điểm đỉnh cao. Đã có khoảng 12 triệu người đi vay, tương đương 14,7% số người sở hữu nhà đã rơi vào tình trạng có tài sản ròng âm tức là giá trị tài sản họ đang nắm giữ còn thấp hơn cả số tiền mà họ đi vay. Với rủi ro lớn như vậy tại sao loại hình dịch vụ này lại có sự phát triển mạnh như thế trong những năm trước khủng hoảng? Đơn giản là bởi vì các ngân hàng, công ty tài chính vẫn còn kỳ vọng vào sự lên giá của bất động sản. Thêm vào đó, áp lực từ cơ quan quản lý nhằm hỗ trợ người có thu nhập thấp có thể sở 3

Showing the first 3 pages. Download the document to see it all.

Comments (0)

Sign in to join the discussion

No comments yet. Be the first!