Xu hướng cải cách Hệ thống giám sát Tài chính trên thế giới

THThiNganHang
0 lượt tải
6
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang XU HƯỚNG CẢI CÁCH HỆ THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI *** Mô hình quản lý và giám sát hệ thống tài chính trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể qua nhiều thập niên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những rủi ro mới phát sinh đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các chuẩn mực, phương thức giám sát hệ thống tài chính theo hướng tăng cường giám sát thận trọng vĩ mô, nâng cao năng lực thể chế của hệ thống giám sát nhằm đảm bảo tính ổn định và sức chịu đựng của hệ thống trước các cú sốc. Xu hướng lựa chọn và điều chỉnh mô hình giám sát Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong hệ thống giám sát tài chính thế giới, khi mô hình quản lý và giám sát tài chính không theo kịp sự phát Xu hướng cải cách hệ thống giám sát tài chính trên thế giới triển và đổi mới của hệ thống tài chính. Do vậy, sau khủng hoảng tài chính này, các nền kinh tế lớn đã tích cực cải cách hệ thống giám sát tài chính nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và ngăn ngừa việc tái diễn khủng hoảng trong tương lai. Giám sát tài chính hợp nhất là mô hình được nhiều nước hướng đến nhiều hơn trong số 4 mô hình giám sát (giám sát theo định chế, giám sát theo chức năng, giám sát hợp nhất, giám sát lưỡng đỉnh), với tỷ lệ các nước lựa chọn mô hình này tăng từ 20% vào năm 1996 lên 31% (năm 2011). Số nước lựa chọn mô hình cũng tăng từ 13 nước (năm 1996) lên 36 nước vào năm 2006, 42 nước (năm 2009) và lên 55 nước (năm 2012). Trong đó, các nước tiêu biểu cho lựa chọn mô hình này là: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Na Uy, Anh (từ năm 1997 đến tháng 3/2013), Ba Lan (từ năm 1997), Hàn Quốc (từ năm 1999), Hungary (từ năm 2000). Các nguyên nhân cơ bản lý giải cho xu hướng này là: (i) Kịp thời phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính; (ii) Nâng cao hiệu quả giám sát trong bối cảnh các tập đoàn tài chính được thành lập ngày càng nhiều; (iii) Mô hình giám sát phân tán không thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước những tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài đến khu vực tài chính trong nước. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Trang 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Hai là, mặc dù mô hình giám sát hợp nhất vẫn được nhiều nước lựa chọn nhưng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ghi nhận ở một số quốc gia (tiêu biểu là Vương quốc Anh) cho thấy, mô hình này vẫn còn hạn chế trong vấn đề phối hợp giám sát và chia sẻ thông tin. Cơ chế hoạt động của Cơ quan giám sát dịch vụ tài chính (FSA) của Anh thể hiện sự thiếu hiệu quả khi cơ quan này đã thất bại trong việc ngăn chặn sự bùng nổ hoạt động cho vay và hậu quả vỡ nợ sau đó, cũng như thất bại trong việc ngăn chặn hoạt động kinh doanh đầy rủi ro của các ngân hàng, dẫn tới sự sụp đổ của nhiều ngân hàng lớn (như Northern Rock, Royal Bank of Scotland, Loyds…) và buộc phải nhờ đến các khoản cứu trợ từ chính phủ. Chính vì vậy, từ tháng 4/2013, nước Anh đã chuyển từ mô hình giám sát hợp nhất sang mô hình giám sát lưỡng đỉnh. Mô hình giám sát lưỡng đỉnh được xây dựng trên nguyên tắc giám sát theo 2 mục tiêu quan trọng là giám sát an toàn và giám sát hành vi giao dịch. Mô hình giám sát này hiện được áp dụng thành công ở 7 nước gồm: Hà Lan, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ, Domicica, Latvia, Liechtenstein và Anh. Với việc chuyển đổi sang mô hình giám sát lưỡng đỉnh, kể từ 1/4/2013, Cơ quan giám sát dịch vụ tài chính (FSA) của Anh được giải thể, Chính phủ Anh đã chuyển các chức năng của FSA sang cho Cơ quan hoạt động tài chính (Financial Conduct Authority – FCA) và Cơ quan quản lý thận trọng (Prudential Regulation Agency – PRA). PRA sẽ chịu trách nhiệm quản lý các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các công ty đầu tư đa ngành bằng việc ban hành các quy định về an toàn. FCA sẽ đảm nhận chức năng của một cơ quan giám sát, bảo đảm điều tiết thị trường tài chính Anh theo hướng ổn định và có lợi cho người sử dụng dịch vụ tài chính cũng như các thành viên tham gia thị trường. Vai trò giám sát của các ngân hàng trung ương được chú trọng và tăng cường hơn sau khủng hoảng. Sau khi chuyển đổi sang mô hình lưỡng đỉnh, cùng với việc chuyển đổi các chức năng của FSA sang cho FCA và PRA, giám sát an toàn cũng được chuyển về cho ngân hàng trung ương Anh phụ trách. Tại liên minh châu Âu (EU), kể từ ngày 13/12/2012, các ngân hàng có quy mô lớn với tổng tài sản trên 30 tỷ Euro và được chính quyền quốc gia thành viên coi là quan trọng đối với nền kinh tế sẽ chịu sự giám sát của ngân hàng trung ương châu Âu (ECB). Xu hướng tăng cường các chuẩn mực giám sát Sau khủng hoảng tài chính năm 2008, xu hướng chung trên thế giới là tăng cường các chuẩn mực giám sát theo hướng đảm bảo an toàn, lành mạnh tài chính của các định chế tài chính. Với việc nâng cao các chuẩn mực an toàn này, hệ thống giám sát tài chính của các nước sẽ được cải cách theo hướng tăng cường khả năng chống đỡ của hệ thống tài chính trước các “cú sốc” từ bên ngoài. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Trang 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Các chuẩn mực giám sát hệ thống tài chính tiếp tục phát triển dựa trên các chuẩn mực quốc tế được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế như: Ủy ban Basel của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) với các nguyên tắc về giám sát ngân hàng; Ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) với các nguyên tắc về giám sát chứng khoán; và Hiệp hội Cơ quan giám sát Bảo hiểm quốc tế (IAIS) với các nguyên tắc về giám sát bảo hiểm. Trong đó, hiện nay, các chuẩn mực giám sát hệ thống ngân hàng được đặc biệt chú trọng tăng cường mạnh mẽ hơn khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã cho thấy những tổn thương của hệ thống tài chính xuất phát chủ yếu từ những yếu kém trong hệ thống ngân hàng cũng như sự buông lỏng trong quản lý giám sát hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy, Ủy ban Basel cùng các nhà lãnh đạo của các nước G20 đã thống nhất áp dụng Basel III từ tháng 1/2013 với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn tối thiểu cao hơn cùng với phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hiệu quả hơn, theo lộ trình từ 2013 đến 2019. Nhằm đảm bảo an toàn về vốn (với 3 trụ cột chính: dự phòng rủi ro; quản lý và giám sát rủi ro; kỷ luật thị trường) và an toàn thanh khoản, Basel III tăng cường các chuẩn mực giám sát theo các hướng sau: (i) Nâng cao chất lượng vốn nhằm giúp các ngân hàng có khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, từ đó tăng khả năng chống đỡ tốt hơn trước các cú sốc; (ii) Yêu cầu các ngân hàng bổ sung thêm vốn, theo đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng tỷ lệ của loại vốn có chất lượng cao được nâng lên (tỷ lệ vốn cấp 1 tăng từ 4% lên 6%, tỷ lệ vốn của cổ đông thường cũng được tăng từ 2% lên 4,5%); (iii) Quy định về tiêu chuẩn thanh khoản cũng yêu cầu các ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả và thanh toán trong những trường hợp khó khăn. Điều chỉnh phương thức giám sát Những bất cập trong giám sát tài chính, đặc biệt ở cấp độ giám sát an toàn vĩ mô liên quan đến toàn bộ hệ thống tài chính đã bộc lộ rõ hơn trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Hệ thống điều tiết, giám sát tại nhiều quốc gia đã không thể phát hiện kịp thời cũng như xử lý khủng hoảng cho thấy việc ổn định và đảm bảo an toàn tài chính không thể chỉ đơn thuần dựa vào giám sát tài chính đơn lẻ. Chính vì vậy, phương thức giám sát được điều chỉnh theo hướng tăng cường vai trò của giám sát thận trọng vĩ mô đối với hệ thống tài chính. Nhìn chung, mục tiêu cụ thể của giám sát thận trọng vĩ mô là hạn chế những rủi ro mang tính hệ thống và giảm bớt chi phí của những cuộc khủng hoảng, từ đó ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ hệ thống tài chính. Nếu như trước khủng hoảng tài chính www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!