Tiểu luận - Căn bệnh Hà Lan, thực trạng ở các nước đang phát triển và giải pháp dưới góc độ vốn ở Việt Nam

THThiNganHang
3 lượt tải
25
0

Nội dung tài liệu

Trang 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang MỤC LỤC Mở đầu……………………………………………………………………………….……2 I. Cơ sở lý thuyết về “bệnh Hà Lan”:............................................................................2 1.Khái niệm:...........................................................................................................................................2 2.Nguyên nhân của “bệnh Hà Lan”:................................................................................................2 3.Mô hình EB-IB giải thích tác động của “bệnh Hà Lan”:........................................................3 II. Thực trạng “bệnh Hà Lan” dưới góc độ nguồn vốn ở một số nước đang phát triển:.....................................................................................................................................8 1.Mô hình kiểm định thực trạng sử dụng vốn nước ngoài ở các nước đang phát triển:....8 2.Trung Quốc – Ví dụ điển hình của “bệnh Hà Lan” dưới góc độ nguồn vốn...................10 3.Thực trạng “bệnh Hà Lan” dưới góc độ nguồn vốn ở Việt Nam :.....................................14 3.1. “Bệnh Hà Lan” dưới góc độ FDI :....................................................................................15 3.2. “Bệnh Hà Lan” dưới góc độ ODA:..................................................................................18 III. Giải pháp cho “Bệnh Hà Lan” dưới góc độ nguồn vốn của Việt Nam:................20 Kết luận………………………………………………………………………………….24 Tài liệu tham khảo……...……………………………………………………………….25 www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Trang 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang MỞ ĐẦU I. Cơ sở lý thuyết về “bệnh Hà Lan”: 1. Khái niệm: “Bênh Hà Lan” là tên gọi một nguy cơ kinh tế xảy ra khi đẩy mạnh xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên dẫn tới làm suy giảm ngành công nghiệp chế tạo – một hiện tượng giảm công nghiệp hóa.Thuật ngữ “căn bệnh Hà Lan” đôi khi được dùng để chỉ nguy cơ xảy ra khi sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài dẫn đến sự suy giảm của nguồn lực trong nước. Mở rộng ra thuật ngữ này cũng dùng để chỉ tình trạng giảm sút của nền kinh tế do có sự gia tăng dòng ngoại tệ nói chung như sự gia tăng giá tài nguyên thiên nhiên xuất khẩu hay nguồn viện trợ từ nước ngoài, nguồn vốn FDI. 2. Nguyên nhân của “bệnh Hà Lan”: Báo The Economist đã sử dụng thuật ngữ này vào năm 1977 để mô tả tai họa xảy đến với nền kinh tế Hà Lan.Vào năm 1959, Hà Lan phát hiện trữ lượng khí đốt lớn. Điều đó làm xuất khẩu tăng vọt. Từ năm 1937 đến năm 1945, xuất khẩu khí đốt làm tăng 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và tăng 4% GNP.Nhưng Economist nhận ra rằng kinh tế Hà Lan nhìn bề ngoài thì rất tốt nhưng bên trong đang ủ bệnh. Từ năm 1970 đến 1977, thất nghiệp tăng từ 1.1% đến 5.1%.Đầu tư từ tập đoàn lớn bị đảo lộn. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự tăng giá của đồng Gunđơn (“guilder”), đơn vị tiền tệ Hà Lan thời đó. Vì xuất khẩu khí đốt đã mang lại một luồng ngoại tệ lớn, điều đó làm nhu cầu của Gunđơn tăng mạnh và làm tăng giá đồng Gunđơn một cách nhanh chóng. Cuối cùng thì nơi thiệt hại lớn nhất chính là các ngành kinh tế còn lại. Sự tăng giá của đơn vị tiền tệ làm cho các ngành xuất khẩu các mặt hàng truyền thống như nông nghiệp, điện tử,… thiếu tính cạnh tranh và sụt giảm “cầu”, đặc biệt là xuất khẩu sữa. Một vấn đề khác nữa là công nghiệp khai thác khí đốt là một ngành thâm dụng vốn, không cần nhiều nhân lực. Ngành công nghiệp này sẽ không hấp thụ được lượng lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp. Vì thế nên tỉ lệ thất nghiệp tăng cao. Và trong một động thái nhằm ngăn đồng tiền tăng giá quá nhanh, chính phủ Hà Lan đã kìm lãi suất xuống www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Trang 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang thấp. Điều đó làm đầu tư trong nước sụt giảm và nguồn tiền đổ ra nước ngoài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến triển vọng kinh tế trong tương lai. 3. Mô hình EB-IB giải thích tác động của “bệnh Hà Lan”: Mô hình EB-IB (của nhà kinh tế học Corden, người Úc) là mô hình kinh tế vĩ mô được sử dụng rất phổ biến nhằm giải thích và đưa ra các chính sách kinh tế giải quyết các trục trặc thường xảy ra ở các nước đang phát triển. Mô hình giả định rằng nền kinh tế chỉ tồn tại 2 loại hàng hóa: hàng ngoại thương (T) và hàng phi ngoại thương (N). Hàng ngoại thương là hàng hóa và dịch vụ có thể được mua bán và trao đổi giữa các quốc gia, giá cả được xác định nhờ cung cầu của thị trường thế giới.Hàng phi ngoại thương là những hàng hóa và dịch vụ chỉ có thể được tiêu thụ trong nội bộ nền kinh tế, không thể xuất khẩu hoặc nhập khẩu, giá cả được xác định bởi giá cả trong nước.Trên thực tế, rất khó có sự phân chia chính xác 2 loại hàng hóa này. Hiện nay, cách phân chia phổ biến nhất và được sử dụng ở hầu hết tất cả các nước là phân loại theo tiêu chuẩn công nghiệp của Liên Hợp Quốc (SIC – The Standard Industrial Classification). Theo SIC, hàng hóa và dịch vụ được chia thành 9 nhóm ngành chủ yếu : 1. Nông nghiệp, săn bắn, lâm nghiệp và đánh cá 2. Khai thác mỏ và khai thác đá 3. Sản xuất chế biến 4. Điện, nước, khí đốt 5. Xây dựng 6. Mua bán sỉ và lẻ, nhà hàng và khách sạn 7. Giao thông, kho bãi và thông tin 8. Tài chính, bảo hiểm, nhà đất và các dịch vụ kinh doanh 9. Các dịch vụ cá nhân, cộng đồng và xã hội Thông thường, 3 nhóm đầu được xem là hàng ngoại thương, 6 nhóm sau là hàng phi ngoại thương. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ. Về nguyên tắc, có 2 yếu tố quyết định tính ngoại thương hay phi ngoại thương của hàng hóa: chi phí vận chuyển (chi phí vận chuyển càng thấp trong toàn bộ chi phí sản xuất càng dễ trao đổi ngoại thương), hàng rào bảo hộ mậu dịch như thuế nhập khẩu hay hạn ngạch (hàng rào bảo hộ mậu dịch www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!