Thị trường chứng khoán Việt Nam

THThiNganHang
0 lượt tải
49
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Mục lục 1. Thực trạng của CTCK Việt Nam hiện nay.................................................................1 2. Hoạt động môi giới của CTCK Việt Nam..................................................................2 3. Hoạt động tự doanh của CTCK Việt Nam. ................................................................5 4. Bảo lãnh phát hành của CTCK Việt Nam..................................................................6 5. Tư vấn của CTCK Việt Nam......................................................................................8 6. Các CTCK hiện nay vẫn chưa mặn mà với việc tạo lập thị trường. ..........................9 1. Thực trạng của CTCK Việt Nam hiện nay. Chưa đến mức bị "đình chỉ" nhưng hàng loạt các CTCK khác cũng đang ở trong tình trạng sống dở chết dở, bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, bị cảnh báo vì thua lỗ, nợ nần, sai phạm... và khả năng bị loại ra khỏi TTCK không hề nhỏ. Tính tới thời điểm hiện tại, số lượng CTCK bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt đã lên tới cả chục đơn vị. Ngoài các đơn vị nêu trên, còn có GBS, SBS, Công nghiệp (VIG), Mê Kông, SME... Số lượng CTCK nằm trong diện cảnh báo do khó khăn, thua lỗ hoặc cảnh cáo do vi phạm cũng rất nhiều. Một trường hợp may mắn thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt là CTCK Thương mại và Công nghiệp (VIG). Theo thông báo của UBCK cách đây vài ngày, VIG được đưa ra khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt do công ty này đã khôi phục an toàn tài chính nhờ thu hồi được nợ, rút bớt nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, tái cơ cấu danh mục đầu tư nhằm giảm giá trị rủi ro thị trường. Tuy nhiên, nhìn vào hoạt động của VIG, nhiều người không khỏi lo ngại bởi doanh thu quý I/2013 của đơn vị này chỉ đạt 3,1 tỷ đồng (so với vốn hơn 340 tỷ đồng). CTCK này lỗ liên tiếp trong hai năm liên tiếp 2011 (-96 tỷ đồng) và 2012 (-63 tỷ đồng). 1

Trang 2

Rất nhiều CTCK trong suốt cả năm qua đã phải rút gọn hoạt động như: đóng cửa chi nhánh, phòng giao dịch; cắt giảm nhân viên, lương thưởng, thù lao; thắt chặt chi tiêu; chấm dứt tư cách thành viên tại các sàn; rút nghiệp vụ môi giới... Nhiều CTCK càng hoạt động càng thua lỗ. Có doanh nghiệp thua lỗ 5-6 năm liên tiếp. Nhiều đơn vị đóng cửa gần hết (thậm chí hết) các chi nhánh lẫn trụ sở chính và không còn bất cứ một hoạt động gì ngoài đầu tư; một số CTCK thậm chí còn không còn tiền để trả cho đội ngũ lãnh đạo, trả tiền thuê văn phòng... nhưng rất ít công ty tính tới chuyện giải thể. Quy mô TTCK Việt Nam khá nhỏ bé, nhỏ lượng CTCK như hiện nay là quá nhiều và thị phần môi giới đã được xác định với 60-70% rơi vào 10 CTCK lớn nhất, 95 CTCK nhỏ còn lại tranh nhau phần còn lại. Trước đây, rất nhiều CTCK nhỏ sống nhờ vào "doanh thu khác", hay chính là hoạt động đầu tư, tự doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh TTCK trầm lắng và đi xuống như vài năm gần đây, khả năng kiếm lời từ hoạt động nói trên là khó khăn, chưa muốn nói ngược lại. Một số chuyên gia cho biết, việc thành lập CTCK đã rất khó (thời điểm TTCK nóng) thì việc đóng cửa còn khó hơn rất nhiều do thủ tục, quy định, tất toán tài khoản, giải quyết công nợ, vướng mắc, thanh lý hợp đồng, tài sản, thuế... Những vướng mắc trong khâu giải thể, phá sản dường như ai cũng biết. Nó đặc biệt khó khăn hơn với các CTCK bởi sự liên quan tới các khách hàng, tới ngân hàng, tới các cổ đông lớn, nhỏ (tập đoàn, doanh nghiệp, quỹ, tổ chức tín dụng)... Các CTCK còn vốn nhưng kém hiệu quả có thể được tạo điều kiện giải thể để cổ đông thu hồi vốn. Các đơn vị đã cụt hết hoặc gần hết vốn có thể được tạo điều kiện về quy định để khai tử nhanh chóng, tránh để ảnh hưởng tới niềm tin nói chung trên TTCK. Việc tái cấu trúc TTCK có lẽ nên đẩy mạnh đầu tiên ở khâu hoạt động của các CTCK. 2. Hoạt động môi giới của CTCK Việt Nam. Trong quý 2/2013, 91/93 công ty chứng khoán có doanh thu từ hoạt động môi giới. Tổng doanh thu của hoạt động môi giới của toàn thị trường chứng khoán Việt Nam là 375,84 tỷ đồng. Theo thống kê của NDHMoney, 10 công ty đứng đầu có tổng doanh thu từ hoạt động môi giới chứng khoán là 222,1 tỷ đồng, chiếm 60% doanh thu của toàn ngành. 2

Trang 3

CTCK Tp. Hồ Chí Minh (HSC) đứng đầu với thị phần 11% và Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) đứng thứ 2 với thị phần phần đạt 10%. Có thể thấy khoảng cách bám đuổi giữa SSI và HSC đang bị thu hẹp khá nhanh. Trong khi đó, ACBS lại đứng ở vị trí thứ 3 với thị phần khiêm tốn, chỉ với 7% toàn thị trường. Trong 93 công ty đang hoạt động, 2 công ty không có doanh thu môi giới (CTCK Xuân Thành và CTCK Âu Việt), 79 công ty doanh thu dưới 10 tỷ đồng (trong đó 45 công ty có doanh thu chưa đến 1 tỷ đồng) và chỉ có 12 công ty có doanh thu môi giới trên 10 tỷ đồng. Với việc đứng đầu về thị phần môi giới trên cả 2 sàn, doanh thu hoạt động môi giới của HSC trong quý 2 đạt 42,8 tỷ đồng. Trong khi đó, SSI ghi nhận 35,75 tỷ đồng doanh thu từ môi giới. CTCK ACB (ACBS) đứng khá xa so với 2 công ty chứng khoán đứng đầu, doanh thu của ACBS đạt 24,44 tỷ đồng. Trong top 12 doanh nghiệp này, CTCK Chứng khoán Bản Việt (VCSC) là một bất ngờ. Hiện tại, VCSC đang đứng thứ 4 với doanh thu từ môi giới đạt 23,7 tỷ đồng. Được biết, trong thời gian vừa qua, CTCK Bản Việt đã tích cực mở rộng thị phần, tăng cường hoạt động môi giới. Thứ nhất: Đối với các quy định của pháp luật về chủ thể hoạt động MGCK Hiện nay ở Việt Nam, nhận thức của nhà đầu tư còn nhiều hạn chế. Việc siết chặt các quy định đối với hoạt động môi giới là cần thiết, góp phần bảo vệ nhà đầu tư và tạo ra sự ổn định, trật tự của TTCK nói chung. Pháp luật cần quy định rõ hơn và kèm theo đó là các chế tài vừa bảo vệ nhà đầu tư, ổn định thị trường mà cũng giúp chính các CTCK trong tác nghiệp sao cho có uy tín nhất, đảm bảo hơn tính hiệu lực của các hợp đồng đã ký. Hiện nay, chủ thể của hoạt động MGCK là các cá nhân đáp ứng đầy đủ các yêu cầu pháp luật quy định và phải hoạt động trong một CTCK. Cụ thể hơn, Quyết định số 15/QĐ – BTC ngày 27/03/2008 về Quy chế hành nghề CK không cho phép các cá nhân hành nghề MGCK tự do, chứng chỉ hành nghề của người MGCK chỉ có giá trị khi người đó làm việc tại một CTCK và được công ty đó thông báo cho UBCKNN. Tuy nhiên, quy định như vậy có vẻ đang kìm hãm sự phát triển tự nhiên của TTCK. Bởi lẽ khi nền kinh tế ngày càng phát triển, số lượng các công ty cổ phần tăng mạnh, thị trường OTC phát triển mạnh, cùng với đó là khối lượng giao dịch chứng khoán tăng cao, số lượng 3

Trang 4

những nhà môi giới cũng cần phải tăng rất lớn, đặc biệt là thị trường OTC.Vì vậy nếu chỉ giới hạn hoạt động môi giới ở các CTCK thì đó sẽ là lực cản cho sự phát triển của TTCK. Thứ hai: Đối với các quy định về nhận lệnh và chuyển lệnh Việc nhận lệnh giao dịch tuân thủ chặt chẽ quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 33 quy chế tổ chức và hoạt động của CTCK. Việc nhập lệnh khách hàng, của nhân viên công ty và lệnh tự doanh vào hệ thống giao dịch của SGDCK phải theo đúng thứ tự và thời gian nhận lệnh và đúng quy trình giao dịch của công ty. Nghiêm cấm việc nhân viên CTCK chèn lệnh của khách hàng và có các hành vi vi phạm quy định ký quỹ giao dịch. Thực tế hiện tại, các lệnh của khách hàng nếu được nhận từ phòng giao dịch hoặc đại lý nhận lệnh thì phải chuyển về chi nhánh hoặc trụ sở của CTCK, sau đó mới được chuyển tới SGDCK để khớp lệnh. Quy định như vậy có vẻ như chưa hợp lý, vì nếu các lệnh cứ đi theo cấp như vậy sẽ làm cho việc khớp lệnh không được thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác, vì có lệnh tới trước, có lệnh lại tới sau do sự cố kỹ thuật chuyển lệnh lên SGDCK gây ra. Điều này gây thiệt hại trực tiếp cho người đầu tư và ảnh hưởng tới chất lượng giao dịch. Thứ ba: Đối với các quy định pháp luật về thời gian thanh toán Hiện nay thời gian thanh toán áp dụng khi giao dịch chứng khoán là T+3, tức là khi nhà đầu tư thực hiện giao dịch vào ngày T thì đến ngày T+3 họ mới nhận được tiền hoặc nhận được cổ phiếu. Chính điều này đang làm cho nhà đầu tư bị thiệt thòi và mất nhiều cơ hội đầu tư. Khi mà TTCK đang lên thì việc chờ đợi thời hạn thanh toán như thế sẽ có thể gây nên sự chậm trễ và bỏ lỡ cơ hội của nhà đầu tư. Thực tế thì thời hạn thanh toán này còn có thể kéo dài đến T+4 hoặc T+5. Bởi vì chiều ngày T+3 nhà đầu tư mới nhận được tiền vào tài khoản hoặc nhận được cổ phiếu và đến ngày T+4 họ mới có thể bắt đầu giao dịch tiếp. Tuy nhiên, nếu ngày T vào phiên giao dịch đầu tuần tức là thứ hai thì nhà đầu tư còn có thể bán lại cổ phiếu đã mua hoặc đầu tư tiếp vào phiên cuối tuần tức là ngày thứ 6. Còn nếu mua bán vào các phiên giao dịch khác trong tuần thì lại phải chờ tới tuần sau. Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và tạo ra một cơ chế vận hành nhanh nhạy cho TTCK, nên chăng có những sửa đổi về thời hạn thanh toán, có thể rút ngắn thời hạn thanh toán xuống còn T+1, T+2 ? Với điều kiện Việt Nam hiện tại, việc TTCK kì vọng vào thời gian thanh toán T +2 ra đời là hoàn toàn có cơ sở. 4

Hiển thị 4 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!