[Tạp chí khoa học]_ Thực trạng hợp tác, liên kết trong SX và tiêu thụ Lúa hữu cơ

THThiNganHang
0 lượt tải
13
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; pISSN: 2588-1191; eISSN: 2615-9708 Tập 129, Số 3A, 2020, Tr. 43–55; DOI: 10.26459/hueuni-jard.v129i3A.5445 THỰC TRẠNG HỢP TÁC, LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA HỮU CƠ Ở XÃ THỦY PHÙ, THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THỪA THIÊN HUẾ Nguyễn Văn Thành1*, Nguyễn Viết Tuân1, Lê Văn Nam1, Phan Thiện Phước1, Nguyễn Thị Ái Vân1,2, Lê Việt Linh1, Mai Thu Giang3 1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, 102 Phùng Hưng, Huế, Việt Nam 2 Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, 16 Lê Lợi St., Huế, Việt Nam 3 Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 99 Hồ Đắc Di, Huế, Việt Nam Tóm tắt: Nghiên cứu này đánh giá thực trạng hợp tác, liên kết của nông hộ trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ tại xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 60 hộ sản xuất lúa hữu cơ bằng bảng hỏi bán cấu trúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 80% lúa hữu cơ được tiêu thụ thông qua hợp đồng, tỉ lệ hộ thực hiện theo hợp đồng chiếm tỉ lệ 98%. Liên kết giữa nông hộ sản xuất lúa hữu cơ là liên kết miệng, chưa chặt chẽ; liên kết này thực hiện chủ yếu thông qua trao đổi thông tin về kỹ thuật sản xuất; việc trao đổi thông tin về đầu vào và đầu ra chưa được nông hộ quan tâm. Liên kết giữa hộ với doanh nghiệp được thực hiện qua qua hợp đồng và khá chặt chẽ. Ngoại trừ điều khoản về xử lý rủi ro, các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, số lượng và chất lượng sản phẩm, và phương thức giao nhận được đánh giá khá chặt chẽ trong hợp đồng. Các dịch vụ đầu vào, đầu ra và giá cả sản phẩm trong liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ ở vùng nghiên cứu tốt hơn so với sản xuất lúa thường. Từ khóa: nông hộ trồng lúa, hợp tác, liên kết, hợp đồng, lúa hữu cơ 1 Đặt vấn đề Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là giải pháp mang tính căn bản nhằm giúp nông dân bao tiêu đầu ra ổn định, nâng cao hiệu quả sản xuất, từ đó góp phần phát triển nông nghiệp bền vững [20]. Ở Việt Nam, nhận thức được điều này, trong những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chủ chương, chính sách nhằm khuyến khích, hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm như: Quyết định số 80/QĐ-TTg về khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; và gần đây nhất là Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp [4]. Tuy nhiên, đến nay việc tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng liên kết ở các địa phương trên cả nước vẫn gặp nhiều khó khăn, lượng hàng hóa của nông hộ được tiêu thụ thông qua hợp đồng * Liên hệ: nguyenvanthanh83@huaf.edu.vn Nhận bài: 11-9-2019; Hoàn thành phản biện: 01-10-2019; Ngày nhận đăng: 8-10-2019

Trang 2

Nguyễn Văn Thành và CS. Tập 129, Số 3A, 2020 còn hạn chế, đặc biệt là các loại nông sản, hàng hóa hữu cơ [6]. Theo điều tra của Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản Trung ương, tỉ lệ diện tích gieo trồng của cánh đồng lớn được tiêu thụ theo hợp đồng ở các tỉnh, thành chỉ chiếm khoảng 29%; trong đó, tỉ lệ diện tích này ở Thừa Thiên Huế là khoảng 27% đối với với sản xuất lúa nước [2]. Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có diện tích sản xuất lúa nước lớn ở khu vực miền Trung, với diện tích canh tác gần 30.000 ha (năm 2018) [13]. Hoạt động sản xuất lúa mang lại nguồn thu đáng kể cho phần lớn nông hộ trong tỉnh; tuy nhiên, hiện nay hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của địa phương [15]. Trong những năm gần đây, để thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cho nông hộ, Thừa Thiên Huế đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất lúa, trong đó có Đề án tái cơ cấu nông nghiệp của tỉnh năm 2016. Theo đề án này, Thừa Thiên Huế chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học, liên kết sản xuất lúa gắn với bao tiêu sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, bảo đảm sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng và bảo vệ môi trường [18]. Tuy vậy, đến năm 2018, diện tích lúa của tỉnh được sản xuất theo quy trình hữu cơ, liên kết với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm còn hạn chế (gần 353,3 ha) [13]. Nghiên cứu cho thấy liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa chặt chẽ là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sản xuất của nông hộ chưa cao, không thể thúc đẩy mở rộng sản xuất và tạo ra mối liên kết bền vững và nâng cao hiệu quả sản xuất [1, 9]. Do vậy, để thúc đẩy mở rộng diện tích, phát triển chuỗi liên kết sản xuất lúa hữu cơ theo hợp đồng ở Thừa Thiên Huế, việc đánh giá thực trạng hợp tác liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp là rất cần thiết nhằm giúp các cơ quan quản lý về nông nghiệp, chính quyền địa phương có cơ sở thực tiễn để phát triển chuỗi liên kết này. Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu mối liên kết sản xuất giữa Công ty TNHH MTV Quế Lâm, là doanh nghiệp thực hiện hợp tác liên kết sản xuất lúa hữu cơ theo hợp đồng lớn nhất ở Thừa Thiên Huế và nông hộ tại xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế như một nghiên cứu điển hình để phân tích thực trạng hợp tác liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ giữa nông hộ và doanh nghiệp. 2 Phương pháp 2.1 Địa điểm Địa điểm nghiên cứu là xã Thủy Phù, một xã đầu tiên sản xuất lúa hữu cơ theo hình thức hợp tác liên kết trên địa bàn thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Thủy Phù có dân số 13.793 người với 1.348,3 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích sản xuất lúa chiếm 94,8%. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 38 triệu đồng/năm; tỉ lệ hộ nghèo thấp (3,3% năm 2017). Quá trình hợp tác liên kết sản xuất lúa hữu cơ tại xã được thực hiện từ năm 2015 với diện tích 5 ha và 24 hộ tham gia; đến cuối năm 2018 diện tích sản xuất lúa hữu cơ của xã đạt 46 ha với 210 hộ tham gia [19]. 44

Trang 3

Jos.hueuni.edu.vn Tập 129, Số 3A, 2020 2.2 Thu thập thông tin Thông tin được thu thập từ các nguồn thứ cấp và sơ cấp. Các thông tin thứ cấp được thu thập từ các bài báo, luận văn liên quan đến hợp tác liên kết sản xuất và sản xuất lúa hữu cơ ở Việt Nam và các báo cáo kinh tế – xã hội liên quan đến tình hình sản xuất lúa ở địa bàn nghiên cứu. Thông tin sơ cấp: Xã Thủy Phù hiện có 210 hộ sản xuất lúa hữu cơ; tất cả những hộ này đều liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa theo hợp đồng với Công ty TNHH MTV Quế Lâm (Sau đây gọi tắt là Công ty) thông qua HTX nông nghiệp Phù Bài – đơn vị trung gian liên kết giữa nông hộ sản xuất lúa hữu cơ với Công ty. Dựa trên thông tin này, nhóm nghiên cứu đã chọn 60 hộ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc. 2.3 Xử lý số liệu Số liệu thu thập được mã hoá và xử lý bằng phần mềm SPSS 18. Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ ở địa bàn nghiên cứu thông qua các chỉ tiêu: tần suất, tỷ lệ, trung bình và độ lệch chuẩn. Nghiên cứu sử dụng công cụ phân tích thứ 8 trong Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị của M4P1 để phân tích mối liên kết dọc và liên kết ngang trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ [7]. Để đánh giá mức độ liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi, nghiên cứu đã sử dụng thang đo theo mức độ thường xuyên để nông hộ tự đánh giá liên kết ngang và sử dụng thang đo theo mức độ chặt chẽ để đánh giá liên kết dọc giữa nông hộ và Công ty. 3 Kết quả và thảo luận 3.1 Đặc điểm chính của nông hộ khảo sát Một số đặc điểm của nông hộ như nhân khẩu, lao động, trình văn hóa và kinh nghiệm sản xuất lúa có liên quan mật thiết đến khả năng và năng lực đầu tư sản xuất; do vậy, các đặc điểm này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của họ. Tại Thủy Phù, độ tuổi trung bình của chủ hộ sản xuất lúa hữu cơ là 55,5, nhưng trình độ văn hóa của họ khá thấp; trung bình chủ hộ mới học hết lớp 8 (Bảng 1). Nhiều nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn thấp là nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật của hộ [11, 16]. Nông hộ có quy mô nhân khẩu trung bình 4,8 người/hộ. Số lao động bình quân của hộ khá cao, trung bình 3,1 lao động/hộ; trong đó, lao động trực tiếp tham gia sản xuất nông 1 Dự án “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo” (M4P) do cơ quan đại diện thường trú Ngân hàng phát triển Châu Á tại Việt Nam đang thực hiện tại khu vực Việt Nam, Lào và Campuchia. 45

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!