Trang 1
Tạp chí Khoa học - Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn ISSN 2588 - 1213 Tập 128, Số 6C, 2019, Tr. 81–91; DOI: 10.26459/hueuni-jssh.v128i6C.5287 CHỦ ĐỀ “KHÁM PHÁ TỪ TRƯỜNG TRÁI ĐẤT” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MẠNG XÃ HỘI Nguyễn Văn Kiệt, Nguyễn Thị Lan Ngọc, Nguyễn Đăng Nhật* Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 32 Lê Lợi, Huế, Việt Nam Tóm tắt:“Khám phá trường Trái đất” là một chủ đề rộng lớn, gần gũi với đời sống hàng gày của học sinh (HS), liên quan đến nhiều kiến thức như địa lý, toán học… nên việc dạy học (DH) theo chủ đề theo định hướng phát triển năng lực tự học (NLTH) cho HS với sự hỗ trợ của mạngxã hội (MXH) là rất cần thiết để hình thành những kỹ năng, năng lực cốt lõi. Dạy họctheo chủ đề với sự hỗ trợ của MXH không chỉ nhằm mục đích truyền thụ cho các em những kiến thức mới mà còn tạo điều kiện cho các em khả năng tự tìm tòi, tự lĩnh hội tri thức.Để đạt được các mục tiêu DH cần cung cấp đầy đủ các yếu tố ngoại lực giúp HS có nền tảng vững chắc các khái niệm về từ trường Trái đất. Từ đó, HS có thể phát triển nội lực riêng và chiếm lĩnh được kiến thức vềtừ trường Trái đất cũng như hiểu rõ ràng về thế giới quan các mối quan hệ của từ trường Trái đất với cuộc sống (những điều kỳ diệu của từ trường; các hiện tượng liên quan đến từ trường: bão từ; cực quang; tác hại và lợi ích của từ trường…). Ngoài ra, cần xây dựng cho HS khả năng tự học (TH), tự tìm tòi, tự quản lý điều hành việc TH của mình. Quá trình TH luôn đi kèm sự tự vận động và tương tác với bạn bè, với giáoviênhướng dẫn qua nhiều kênh như trao đổi thông qua làm việc nhóm trực tiếp hay với sự hỗ trợ của MXH khi TH tại nhà để nâng cao hiệu quả học tập của HS. Từ khóa:dạy học chủ đề, mạng xã hội, tự học, năng lực tự học, phát triển năng lực tự học Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, các trang Mạng xã hội (MXH) đã phát triển sâu rộng đến mọi tầng lớp trong xã hội. Số lượng học sinh (HS) tham gia vào các trang MXH chiếm tỉ lệ gần như 100% và dành nhiều thời gian truy cập chủ yếu để thư giãn, còn dành cho việc học và tìm tòi tài liệu phục vụ cho việc học thường rất hạn chế. Để khuyến khích HS tự học và dành nhiều thời gian cho tự học là một việc làm đòi hỏi có sự đầu tư nhiều của người dạy. Với chủ đề “Khám phá từ trường Trái đất”, giáo viên (GV) không chỉ dạy học bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn HS tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn. 1. Một số khái niệm 1.1. Năng lực tự học *Liên hệ: nkiet32@gmail.com Nhận bài: 09-06-2019; Hoàn thành phản biện: 23-07-2019; Ngày nhận đăng: 29-08-2019
Trang 2
Nguyễn Văn Kiệt, Nguyễn Thị Lan Ngọc,ễn Văn Kiệt, Nguyễn Thị Lan Ngọc, Nguyễn Đăng Nhật Tập 128, Số 6C, 2019, 2019 Năng lực tự học (NLTH) là năng lựcnăng lực hết sức quan trọng vì TH là chìa khoá tiến vào thào thế kỷXXI, một thế kỷvới quan niệm học suốt đời, xới quan niệm học suốt đời, xã hội học tập. Có NLTH mới có thể học suốt đờiội học tập. Có NLTH mới có thể học suốt đời được. Vì vậy, quan trọng nhất đối với HS là học cách học vànhất đối với HS là học cách học và khả năng tự mình tìm tòi, nhậnận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. Để rèn luyệnện NLTH cho HS, trong quá trình dạy học (DH), ngạy học (DH), người GV cần biết hướng dẫn và tạo cơ hội, điềuội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm pháện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển NL tư duy, sự linh hoạt, sự sáng tạo choự linh hoạt, sự sáng tạo cho người học. NLTH là một năng lực thể hiện ở tính tự lực, sự tự lể hiện ở tính tự lực, sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề củaấy, tự giải quyết lấy vấn đề của một chủ thể hoạt động Do đó, theo chúng tôi: “NLTH là năng l“NLTH là năng lực mà HS tự xác định, quản lý và điều khiển cóều khiển có hiệu quả các hoạt động TH được thể hiện qua động cợc thể hiện qua động cơ đúng đắn, thái độ tích cực trong các hohoạt động học tập.” 1.2. Mạng xã hội Theo khoảnản 22,22, ĐiềuĐiều 3,3, NghịNghị ĐịnhĐịnh số72/2013/NĐ-CP:“Mạng xã hội – thesocialsocial networknetwork (MXH) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộngệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sửữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau,ổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân,ồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat), chia sẻện trực tuyến (chat), chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tức dịch vụ tương tự khác.” [12] MXH được tạo ra và lan rộng trong cộng đồng thông qua các tộng trong cộng đồng thông qua các tương tác của các thànhành viên trong chính cộng đồng đó. Mọi thành viên trong MXH cùng kành viên trong MXH cùng kết nối và mỗi người là mộtột mắt xích để tạo nên một mạng lưới rộng lớn truyền tới rộng lớn truyền tải thông tin trong đó. Về cơ bản, MXHản, MXH giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau. MXH khác với trang web thôngột trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau. MXH khác với trang web thôngột trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau. MXH khác với trang web thông thường ở cách truyền tải thông tin và tích hà tích hợp ứng dụng. Trang web thông thường cũng giốngờng cũng giống như truyền hình, cung cấp càng nhiều thônều thông tin, thông tin càng hấp dẫn càng tốt còn MXH tạoạo ra các ứng dụng mở, các công cụ tương tác đương tác để mọi người tự tương tác và tạo ra dòng tin rồiòng tin rồi cùng lan truyền dòng tin đó. Như vậy, MXH là phương tiện liên kên kết các thành viên trên mạng Internet lại với nhau với nhiềuới nhiều mục đích khác nhau nhằm tìm kiếm, chia sẻ vếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau; không phân biệt vị trí địa lý,ổi thông tin với nhau; không phân biệt vị trí địa lý, giới tính, độ tuổi và thời gian. 2. Quy trình tổ chức dạy học chủ đề theo hổ chức dạy học chủ đề theo hướng phát triển năng lực tự họcớng phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hộimạng xã hội * Giai đoạn 1: Chuẩn bị Thay cho việc DH đang được thực hiện theo từng bợc thực hiện theo từng bài trong sách giáo khoa (SGK) nhưài trong sách giáo khoa (SGK) như 82
Trang 3
Jos.hueuni.edu.vn Tập 128, Số 6C, 2019 hiện nay, GV hoặc tổ chuyên môn căn cứ vào chương trình và SGK lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề DH phù hợp theo hướng nâng cao NLTH cho HS với sự hỗ trợ của MXH. Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho HSTH trên lớp hoặc ở nhà thông qua các trang MXH với mỗi chủ đề đã xây dựng được. * Giai đoạn 2: Biên soạn câu hỏi/bài tập Với mỗi chủ đề đã xây dựng, việc xây dựng câu hỏi/bài tập thể hiện được bốn mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá NLTH của HS trong DH. * Giai đoạn 3: Giao nhiệm vụ học tập Các chủ đề được giao cho HS thông qua các hoạt động TH được thực hiện ở trên lớp hoặc ở nhà với sự hướng dẫn trực tiếp của GV hoặc qua các trang MXH. * Giai đoạn 4: Tổ chức dạy học Trên cơ sở các chủ đề DH đã được xây dựng, GV tổ chức thực hiện bài học để HS tổng hợp lại những kiến thức mà bản thân đã chuẩn bị. Trong quá trình tổ chức DH, GV cần tập trung quan sát hoạt động học của HS thông qua việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ học tập với yêu cầu như sau: -Chuyển giao nhiệm vụ học tập:nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. - Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích HS hợp tác với nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có HS bị “bỏ quên”. - Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập và kỹ thuật DH tích cực được sử dụng; khuyến khích cho HS trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập thông qua các trang MXH; GV xử lý những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lý và kịp thời. - Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của HS; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của HS; chính xác hóa các kiến thức mà HS đã học được thông qua hoạt động. * Giai đoạn 5: Phân tích, rút kinh nghiệm bài học Trong quá trình DH, mỗi chủ đề được thiết kế thành các hoạt động TH của HS dưới dạng các nhiệm vụ học tập kế tiếp nhau, có thể được thực hiện trên lớp hoặc ở nhà. HS tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV hoặc thông qua các trang MXH. 83
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!