Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ L/C

THThiNganHang
0 lượt tải
35
0

Nội dung tài liệu

Trang 1

PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ L/C I, TỔNG QUAN VỀ L/C: L/C (Letter of Credit) là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng 70% giá trị thanh toán. Lý do là nó bảo đảm quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và người bán . 1.Khái niệm: - Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C. - Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương , song sau khi được thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương và khi đó phương thức thanh toán này đã được thiết lập. Tính chất độc lập của thư tín dụng được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C (nhà xuất khẩu) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán. Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và nội dung của L/C đã được mở để tiền cho người bán . Việc thanh toán của ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng của hàng hóa. Nếu thực trạng của hàng hóa không đúng với chứng từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau. Trong trường hợp người mua không thanh toán tiền cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ trả tiền cho người bán, thực hiện đầy đủ và đúng với các điều khoản đã được quy định trong L/C. 2. Các bên tham gia a. Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này. Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer), nhà NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee). b. Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Người thụ hưởng L/C có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer). c. Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho người bán hưởng. Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán. d. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK. e. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C. f. Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ 1

Trang 2

nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những qui định trong L/C thì: - Thanh toán (pay) cho người thụ hưởng - Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn - Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ - Chịu trách nhiệm trả chậm (deferrer payment) giá trị của L/C. Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến. 3. Đặc điểm của giao dịch L/C - Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, không dựa trên hàng hóa và dịch vụ. - L/C phải chỉ rõ là hủy ngang hay không hủy ngang, nếu không chỉ ra như vậy nó sẽ được coi là không hủy ngang. - Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C nếu: chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các chứng từ mâu thuẫn nhau. - Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gia hợp lý không quá 5 ngày làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác định chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàng phát hành không có quyền thông báo sai sót - Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ không quy định trong L/C. Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ nó phải thông báo bằng phương tiện truyền thống trước lúc đóng cửa của ngày làm việc thứ năm ( ngày làm việc ngân hàng ). - Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin. 4. Chức năng cơ bản của L/C a.Chức năng thanh toán: Bộ chứng từ xuất trình đòi tiền theo L/C thông thường là những chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa, chứng minh việc người bán hàng đã hoàn tất nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng đã ký với người mua, là cơ sở để ngân hàng thực hiện thanh toán. b.Chức năng tín dụng: Thư tín dụng là văn bản thể hiện loại tín dụng do ngân hàng cung cấp cho người nhập khẩu và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với nhà xuất khẩu . Trong nghiệp vụ này từ " tín dụng " được hiểu theo nghĩa rộng là " tín nhiệm " chứ không hẳn là khoản tiền vay theo nghĩa thông thường của từ này, ví dụ như trong trường hợp khi nhà nhập khẩu yêu cầu mở thu tín dụng ngân hàng chỉ chấp nhận khi khách hàng ký quỹ 100% giá trị của thư. Trong trường hợp này ngân hàng không cấp cho nhà nhập khẩu một khoản tín dụng nào. c. Chức năng bảo đảm thanh toán: 2

Trang 3

Tín dụng chứng từ là sự cam kết độc lập của ngân hàng mở L/C đối với nhà xuất khẩu. Trong đó, ngân hàng mở L/C đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho nhà xuất khẩu ngay khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp, mà không phụ thuộc vào ý muốn hay khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu . Mặt khác, thông qua phương thức thanh toán này quyền lợi của nhà nhập khẩu cũng được bảo vệ vì ngân hàng mở L/C đóng vai trò trung gian kiểm soát chứng từ liên quan đến hợp đồng thương mại và L/C. 5. Các văn bản pháp lý điều chỉnh giao dịch L/C: - Hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C ngoài việc phải tuân thủ các nguồn luật bắt buộc đương nhiên như: Công ước, các nguồn luật quốc tế liên quan và các nguồn luật quốc gia, đồng thời hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C còn phải chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các thong lệ và tập quán quốc tế bao gồm: UCP,ISBP,eUCP,URR. Trong đó UCP là văn bản chính còn các văn bản khác có tính chất giải thích và làm rõ UCP. - Do có nhiều nguồn luật cùng tham gia điều chỉnh nên: + Trình tự ưu tiên về tính pháp lý theo thứ tự giảm dần sẽ là: Công ước và Luật quốc tế, Luật quốc gia, Thông lệ và tập quán quốc tế. Nếu có mâu thuẫn giữa các nguồn luật thì: Luật quốc gia sẽ được ưu tiên so với Thông lệ và tập quán quốc tế; Công ước và luật quốc tế sẽ được ưu tiên đối với luật quốc gia. + Thông lệ và tập quán quốc tế là những văn bản quy phạm pháp luật tùy ý. Do các văn bản này do ICC phát hành mà ICC là tổ chức phi chính phủ chứ không phải là một tổ chức liên chính phủ. Do đó UCP do ICC ban hành không mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các hội viên cũng như các bên liên quan. + Tính chất pháp lý tùy ý của UCP(và các văn bản khác) do ICC ban hành được thể hiện ở các điểm chính:  Tất cả các phiên bản UCP đều còn nguyên giá trị, phiên bản sau không phủ nhận phiên bản trước. Do đó khi dẫn chiếu UCP phải nói rõ UCP nào.  Chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu áp dụng UCP thì nó mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia.  Các bên có thể thỏa thuận trong L/C không thực hiện,bổ sung hoặc thực hiện khác đi so với điều khoản trong UCP.  Nếu nội dung UCP có xung đột với luật quốc gia thì luật quốc gia được vượt lên trên về mặt pháp lý.  Trong giao dịch L/C, các bên trước hết phải tuân thủ các điều khoản của L/C, sau đó là các điều khoản của UCP được áp dụng. 6. Các điều khoản trong UCP600 điều chỉnh L/C: Điều 6: Thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình. 3

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!