Trang 1
Chuyªn ®Ò 9 ThuÕ vμ qu¶n lý thuÕ n©ng cao 1. Những vấn đề chung về thuế 1.1. Nguồn gốc của thuế Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời đã chứng minh rằng thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nƣớc phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội. Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nƣớc có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội đƣợc gọi là thuế. Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc, song quan niệm về thuế và việc sử dụng công cụ thuế mỗi thời một khác. Trong chế độ phong kiến và giai đoạn đầu của nhà nƣớc tƣ sản thuế đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu để nuôi sống bộ máy Nhà nƣớc, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng, an ninh. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1929 – 1933, vai trò của Nhà nƣớc đã có sự thay đổi: Nhà nƣớc cần can thiệp vào hoạt động kinh tế bằng cách lập ra các chƣơng trình đầu tƣ lớn và thực hiện tái phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua công cụ ngân sách nhà nƣớc. Lúc này, thuế đƣợc Nhà nƣớc sử dụng nhƣ là một công cụ để điều chỉnh nền kinh tế. Cùng với việc mở rộng các chức năng của Nhà nƣớc và sự phát triển các quan hệ hàng hoá tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng phong phú hơn, công tác quản lý thuế ngày càng đƣợc hoàn thiện hơn và thuế đã trở thành một công cụ quan trọng, có hiệu quả của nhà nƣớc để tác động đến đời sống kinh tế xã hội của đất nƣớc. Bàn về mối liên hệ giữa thuế và Nhà nƣớc, Mác viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước1”. Ang-ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má2”. Tóm lại, điểm qua quá trình phát triển của xã hội cho thấy: thuế và Nhà nƣớc là hai phạm trù lịch sử gắn bó hữu cơ với nhau: Nhà nƣớc tồn tại tất yếu phải có thuế; ngƣợc lại, thuế bảo đảm cơ sở vật chất cho sự hoạt động và phát triển của Nhà nƣớc. 1.2. Khái niệm và đặc điểm của thuế Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nƣớc, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng đƣợc hoàn thiện. Theo các nhà kinh điển, “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của 1 Mác-Ang-ghen tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1961, tập 2. 2 Ang-ghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tƣ hữu và Nhà nƣớc, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1962. 1 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 2
đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế3”. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công4” đã đƣa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế. Theo tác giả, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã đƣợc bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện nhƣ sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước”. Trên góc độ phân phối thu nhập, ngƣời ta đƣa ra khái niệm thuế nhƣ sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ ngƣời nộp thuế thì thuế đƣợc định nghĩa nhƣ sau: thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Trên góc độ kinh tế học, thuế đƣợc định nghĩa nhƣ sau: thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước. Nhƣ vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau: - Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dƣới hình thức tiền tệ, điều này trái ngƣợc với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trƣớc đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế đƣợc thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trƣờng. - Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực: Dù đƣợc thực hiện dƣới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đƣợc thực hiện thông qua con đƣờng quyền lực Nhà nƣớc (qua hệ thống pháp luật thuế). Do đó, đối tƣợng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tƣợng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cƣỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. - Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hƣởng, đó là Nhà nƣớc, các cấp chính quyền địa phƣơng. Trái ngƣợc với vay, thuế không đƣợc hoàn trả trực tiếp. - Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước: 3 Lê-nin toàn tập, tập 15. 4 Gaston Jeze, “Finances Publiques”, 1934. 2 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 3
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế đƣợc hoàn trả gián tiếp cho ngƣời nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp đƣợc thể hiện ở cả trƣớc và sau khi thu thuế. Trƣớc khi thu thuế, Nhà nƣớc không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho ngƣời nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nƣớc cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho ngƣời nộp thuế. Cũng nhƣ vậy, ngƣời nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi đƣợc hƣởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Thuế đƣợc thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, thuế không có đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không đƣợc quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nƣớc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Khái niệm “chi tiêu của Nhà nƣớc” ngày nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ bao gồm các chi phí liên quan đến chức năng duy trì bộ máy của Nhà nƣớc để thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc, mà còn gồm các chi phí cho việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội. Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên hai góc độ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nƣớc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế. 1.3. Chức năng của thuế Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện đƣợc 3 chức năng cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. 1.3.1. Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng số chi tiêu của của nhà nƣớc vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản chi ngân sách. Nhƣng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn đƣợc bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nƣớc cho thấy mức độ huy động của Nhà nƣớc để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ). 1.3.2. Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải đƣợc phân chia một cách công bằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tƣơng đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trƣờng. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số ngƣời, có thể đƣợc coi nhƣ đồng nghĩa với sự công bằng, với một số ngƣời khác, lại bị coi là tuỳ tiện. 3 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 4
1.3.3. Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể đƣợc sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của thị trƣờng, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác động nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô. Cách tiếp cận kinh tế vi mô phù hợp với cách nhìn tự do về sự can thiệp của Nhà nƣớc mà với chức năng trợ cấp ngân sách, Nhà nƣớc có thể xoá bỏ đƣợc những vật cản nảy sinh trong kinh tế thị trƣờng. Cách tiếp cận này đôi khi cũng là trung tâm của các cuộc tranh luận. Cách tiếp cận kinh tế vĩ mô thuộc quan niệm của Keynes về chính sách kinh tế, thuế là một biến số mà Nhà nƣớc sử dụng nhằm ổn định tình huống (chính sách tác động trên nhu cầu tổng thể) hoặc cơ cấu (chính sách thuế nhằm tạo thuận lợi cho sự tăng trƣởng kinh tế). Khả năng của thuế trong việc thực hiện các mục tiêu hiệu quả kinh tế này đã bị tranh luận khá gay gắt. Tuỳ theo quan niệm mà ngƣời ta thừa nhận vị trí tự do hay can thiệp của thuế mà chức năng này đƣợc đánh giá ƣu việt nhiều hay ít. Tóm lại, để phát huy đƣợc vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi quốc gia đó. Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đƣờng lối phát triển kinh tế xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đƣờng lối, chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thƣờng xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết. 1.4. Phân loại thuế Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế. Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý mà ngƣời ta có thể đƣa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dƣới đây là một số cách phân loại chủ yếu. 1.4.1 Phân loại theo tính chất hành chính Cách phân loại này thƣờng đƣợc sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hƣởng chúng: thuế đƣợc phân thành hai loại: thuế nhà nƣớc (quốc gia) và thuế địa phƣơng. Ở Việt Nam, Nhà nƣớc đƣợc xây dựng theo nguyên tắc tập trung - dân chủ: Trung ƣơng thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phƣơng không đƣợc phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng. Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nƣớc thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phƣơng, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn đƣợc thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nƣớc. Vì vậy, hiện hành ở nƣớc ta không sử dụng cách phân loại này. 1.4.2. Phân loại theo tính chất kinh tế 4 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 5
Theo cách này, thuế có thể đƣợc phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế. a) Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế đƣợc chia thành thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập đƣợc tích luỹ). b) Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: thuế đánh vào doanh nghiệp, thuế đánh vào hộ gia đình và thuế đánh vào sản phẩm. c) Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế đƣợc phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế, thí dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản... 1.4.3. Phân loại dựa theo tính chất kỹ thuật Cách phân loại này đƣợc dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính cổ điển, đƣợc sử dụng nhiều nhất và thƣờng là trung tâm của các cuộc tranh luận. Theo cách này, thuế đƣợc phân thành các nhóm chủ yếu sau: a) Thuế trực thu và thuế gián thu: Thuế trực thu do ngƣời chịu thuế trực tiếp nộp thuế cho Nhà nƣớc. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của ngƣời nộp thuế, ví dụ nhƣ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân (hiện hành là thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao). Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của ngƣời nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cƣ. Đây cũng là ƣu điểm nổi bật của thuế trực thu so với thuế gián thu. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía ngƣời nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao. Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán. Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho ngân sách nhà nƣớc. Thuế gián thu do các nhà sản xuất, thƣơng nhân hoặc ngƣời cung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nƣớc thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho ngƣời tiêu dùng chịu. Ví dụ nhƣ: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,...Khác với thuế trực thu, ngƣời nộp thuế chính là ngƣời phải chịu thuế, với thuế gián thu, ngƣời nộp thuế và ngƣời chịu thuế không đồng nhất. Do điều tiết một cách gián tiếp vào thu nhập của ngƣời tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thông qua cơ chế giá nên với thuế gián thu, ngƣời chịu thuế (ngƣời tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ) ít có cảm giác bị Nhà nƣớc đánh thuế. Vì vậy, loại thuế này cũng ít gây ra những phản ứng từ phía ngƣời chịu thuế mỗi khi Chính phủ có chủ trƣơng tăng thuế. Ƣu điểm nổi bật của thuế gián thu là nó có khả năng đáp ứng nguồn thu kịp thời, ổn định cho ngân sách nhà nƣớc. Tuy nhiên, thuế gián thu cũng có những hạn chế nhất định, đó là: do thuế gián thu đƣợc tính trên giá cả hàng hoá, dịch vụ, không tính tới điều kiện, hoàn cảnh của đối tƣợng chịu thuế, vì vậy, không đảm bảo đƣợc sự công bằng xã hội, thậm chí còn mang tính luỹ thoái. Có nghĩa là, bất kể ngƣời tiêu dùng là ngƣời giàu hay ngƣời nghèo, thu nhập cao hay thấp, nếu cùng tiêu dùng một lƣợng hàng hoá, dịch vụ nhƣ nhau thì cùng phải chịu một mức điều tiết thuế nhƣ nhau. Số thuế này nếu so với thu nhập của ngƣời giàu và ngƣời nghèo thì rõ 5 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 6
ràng chúng mang tính luỹ thoái, ngƣời có thu nhập càng cao thì tỷ lệ giữa thuế gián thu so với tổng thu nhập càng thấp. Ngày nay, sự phân biệt giữa hai loại thuế này đôi khi chỉ mang tính chất tƣơng đối vì ngày càng khó phân biệt ranh giới giữa hai loại thuế, tuy nhiên, vẫn cần thiết phải phân biệt hai loại thuế này vì trong thực tế, nhiều quốc gia vẫn còn hệ thống tổ chức hành chính dựa trên sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu. b) Thuế tỷ lệ, thuế luỹ tiến: Theo cách phân loại này, thuế tỷ lệ là loại thuế áp dụng một thuế suất nhƣ nhau đối với mọi đối tƣợng chịu thuế, còn thuế luỹ tiến là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tƣợng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tƣợng chịu thuế. Thông thƣờng, đối với các sắc thuế tiêu dùng thƣờng áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến. c) Thuế theo mức riêng biệt và thuế tính theo giá trị: Theo cách này, đƣợc xếp vào loại thuế có mức riêng biệt (cũng có thể đƣợc dịch là thuế đặc biệt, quen đƣợc gọi là thuế tuyệt đối) nếu trong đó, mức thuế suất đƣợc xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tƣợng bị đánh thuế (trọng lƣợng, khối lƣợng, diện tích...), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng. Loại thuế này có lợi thế là rất đơn giản, không cần phải xác định giá trị của đối tƣợng bị đánh thuế nhƣng lại có bất lợi là không thích ứng trong trƣờng hợp tiền tệ bị mất giá. Ở một số nƣớc, loại thuế này thƣờng đƣợc áp dụng dƣới hình thức thuế rƣợu, thuế thuốc lá, thuế bia... Ngƣợc lại, thuế tính theo giá trị là loại thuế đƣợc tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế. Ƣu điểm của loại thuế này là tính toán đơn giản, tiện lợi và đƣợc áp dụng chủ yếu đối với các loại thuế tiêu dùng nhƣ thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Riêng thuế theo mức riêng biệt ở nƣớc ta ít sử dụng. Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thực tế ở một số nƣớc còn có những cách phân loại khác, ví dụ nhƣ: thuế phân tích và thuế tổng hợp; thuế phân bổ và thuế định suất... 1.5. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế Mỗi sắc thuế đƣợc ban hành nhằm đáp ứng các mục tiêu riêng song nhìn chung, mỗi sắc thuế đều đƣợc cấu thành bởi các yếu tố sau: 1.5.1. Tên gọi Tên gọi của mỗi sắc thuế thể hiện đối tƣợng tác động của sắc thuế hoặc mục tiêu của việc áp dụng sắc thuế đó. Ví dụ, thuế “giá trị gia tăng” cho ta thấy loại thuế này chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ sau mỗi lần chúng đƣợc luân chuyển; thuế “thu nhập doanh nghiệp” đánh trên thu nhập của doanh nghiệp; thuế “tiêu thụ đặc biệt” đánh vào việc tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ đặc biệt đƣợc sản xuất hoặc nhập khẩu... 1.5.2. Đối tượng nộp thuế và đối tượng được miễn thuế Yếu tố này xác định rõ tổ chức, cá nhân nào có nghĩa vụ phải kê khai và nộp loại thuế này hoặc tổ chức, cá nhân nào không phải kê khai và nộp loại thuế này (đối tƣợng đƣợc miễn nộp thuế) theo quy định của Luật thuế. 1.5.3. Cơ sở thuế (tax base) 6 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 7
Yếu tố này xác định rõ thuế đƣợc tính trên cái gì. Tuỳ theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế, cơ sở thuế có thể là các khoản thu nhập nhận đƣợc trong kỳ tính thuế của một tổ chức, cá nhân nào đó (ví dụ, cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp là tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ); Cơ sở thuế có thể là tổng trị giá hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ nếu là thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ (ví dụ, cơ sở tính thuế doanh thu là tổng doanh thu nhận đƣợc trong kỳ tính thuế; cơ sở tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá sản xuất trong nƣớc là giá bán chƣa có thuế giá trị gia tăng...). 1.5.4. Mức thuế, thuế suất Mức thuế, thuế suất là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế, có thể nói, đó là “linh hồn” của một sắc thuế, phản ánh yêu cầu và mức độ động viên của Nhà nƣớc trên một cơ sở tính thuế, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của ngƣời nộp thuế. Có các loại mức thuế-thuế suất sau đây: a) Mức thuế cụ thể (tuyệt đối): Mức thu thuế đƣợc ấn định bằng một mức tuyệt đối dựa trên cơ sở thuế. Ví dụ, thuế môn bài quy định thu theo mức 3.000.000 đ/năm đối với cơ sở kinh doanh hạch toán độc lập có mức vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, thu theo mức 1.000.000 đ/năm đối với cơ sở kinh doanh có vốn đăng ký dƣới 2 tỷ đồng; thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định mức thuế đối với đất hạng I tại vùng đồng bằng là 550 kg thóc/ha... b) Thuế suất nhất định: Thuế suất đƣợc xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên cơ sở tính thuế, không thay đổi theo quy mô của cơ sở tính thuế. Ví dụ, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28% trên thu nhập chịu thuế; thuế tiêu thụ đặc biệt quy định thuế suất đối với dịch vụ kinh doanh vũ trƣờng, masage, karaoke là 30%... c) Thuế suất luỹ tiến: Thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của cơ sở tính thuế (thƣờng là thu nhập chịu thuế hoặc trị giá tài sản chịu thuế). Có hai loại thuế suất luỹ tiến: thuế suất luỹ tiến từng phần và thuế suất luỹ tiến toàn phần. Thuế suất luỹ tiến từng phần: Biểu thuế gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc là một mức thuế suất tƣơng ứng, theo đó, thuế suất tăng dần theo từng bậc thuế. Thuế đƣợc tính từng phần theo bậc thuế và mức thuế suất tƣơng ứng của từng bậc, số thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc. Ví dụ, biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập thƣờng xuyên quy định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao. Thuế suất luỹ tiến từng phần có ƣu điểm là do thuế đƣợc đánh tăng dần theo mức tăng của thu nhập, tài sản, sát với khả năng đóng góp của đối tƣợng nộp thuế nên đáp ứng đƣợc mục tiêu công bằng xã hội theo chiều dọc, vì vậy, thƣờng đƣợc sử dụng trong các sắc thuế thu nhập và thuế tài sản. Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhƣợc điểm là kỹ thuật tính toán thuế phức tạp. Thuế suất luỹ tiến toàn phần: Biểu thuế cũng gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc là một mức thuế suất và thuế suất cũng tăng dần theo sự tăng của cơ sở tính thuế. Khác với thuế suất luỹ tiến từng phần, số thuế phải nộp đƣợc tính bằng cách lấy toàn bộ cơ sở thuế áp dụng mức thuế suất tƣơng ứng. Ƣu điểm của loại thuế suất này là việc tính toán xác định số thuế phải nộp đơn giản, nhanh chóng hơn so với thuế suất luỹ tiến từng phần. Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhƣợc điểm là gây ra sự thay đổi có tính đột biến về tổng số thuế phaỉ nộp của đối tƣợng nộp thuế, dẫn đến tình trạng bất hợp lý về mức 7 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 8
thu nhập còn lại sau thuế giữa những ngƣời có mức cơ sở tính thuế ở hai bậc thuế liền kề, do đó không đáp ứng đƣợc mục tiêu công bằng xã hội. Trong trƣờng hợp này, giá trị cơ sở thuế giữa hai bậc thuế liền kề có sự thay đổi không đáng kể nhƣng đối tƣợng nộp thuế có cơ sở thuế ở bậc cao hơn phải tính thuế theo mức thuế suất tƣơng ứng cao hơn cho toàn bộ cơ sở thuế nên đã dẫn đến số thuế phải nộp cao hơn nhiều so với bậc thuế liền kề thấp hơn. Vì những lý do này, loại thuế suất này thực tế hiện nay ít có quốc gia nào áp dụng. d) Biểu thuế: Biểu thuế là bảng tổng hợp các thuế suất hoặc mức thuế nhất định trong một sắc thuế. Ví dụ, biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; biểu thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao; biểu thuế tiêu thụ đặc biệt. 1.5.5. Chế độ miễn, giảm thuế Miễn, giảm thuế là yếu tố ngoại lệ đƣợc quy định trong một số sắc thuế, theo đó, quy định cụ thế các trƣờng hợp, đối tƣợng nộp thuế đƣợc phép miễn thuế hoặc giảm bớt nghĩa vụ thuế so với thông thƣờng (vì một số lý do khách quan bất khả kháng nhƣ thiên tai, địch hoạ hoặc tai nạn bất ngờ, hoặc vì một số lý do nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nƣớc...). Trong mỗi loại thuế, chế độ cũng quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền xét miễn, giảm thuế. 1.5.6. Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế Yếu tố này quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế trong quá trình thi hành luật thuế, ví dụ nhƣ, nghĩa vụ về đăng ký, kê khai, thu nộp thuế; nghĩa vụ về thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; nghĩa vụ về khai báo, cung cấp các thông tin cần thiết cho việc tính và thu thuế... Việc quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế một mặt, nhằm nâng cao ý thức tự giác chấp hành luật thuế, đƣa việc thực thi luật thuế vào nề nếp, kỷ cƣơng; mặt khác, là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm về thuế, đảm bảo sự kiểm soát, quản lý của cơ quan thuế đối với quá trình chấp hành luật thuế đƣợc chặt chẽ, kịp thời. 1.5.7. Thủ tục kê khai, thu nộp, quyết toán thuế Quy định rõ hình thức thu nộp, thủ tục thu nộp, kê khai, quyết toán thuế, thời gian thu nộp... nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng của chính sách, tạo cơ sở pháp lý để xử lý các trƣờng hợp vi phạm luật thuế. Ngoài các yếu tố cơ bản trên đây, trong các sắc thuế còn quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của cơ quan thuế và các cơ quan liên quan trong quá trình thi hành luật thuế; các hình thức vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính... Ở nƣớc ta, các quy định liên quan đến quản lý thuế nêu trên, nhƣ về trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế, kê khai, thu nộp, quyết toán thuế, xử lý vi phạm… trƣớc đây đƣợc quy định trong các Luật thuế. Tuy nhiên, các quy định này đã đƣợc chuyển vào nội dung quy định của Luật quản lý thuế (Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006). Kể từ ngày Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành (01/7/2007) các nội dung về quản lý trong các Luật thuế hiện hành bị bãi bỏ và đƣợc thực hiện thống nhất theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hƣớng dẫn thi hành Luật này. 1.6. Cơ sở pháp lý của thuế Thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của công dân đã đƣợc quy định rõ trong Hiến pháp-đạo luật cơ bản (luật gốc) của nƣớc ta. Điều 80 Hiến pháp năm 1992 của 8 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 9
nƣớc ta đã quy định: "Công dân có nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật". Việc quy định nghĩa vụ đóng góp của dân là một vấn đề lớn của mỗi một quốc gia, cho nên phải do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nƣớc là Quốc hội ban hành dƣới hình thức Luật hoặc Bộ luật. Điều 84 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: "Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: làm Luật và sửa đổi Luật, quyết định chương trình xây dựng luật, Pháp lệnh thuế; Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế". Theo quy định hiện hành, trong một số trƣờng hợp Quốc hội có thể uỷ quyền cho cơ quan thƣờng trực của mình là Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành một số loại thuế dƣới hình thức Pháp lệnh, để sau một thời gian thi hành sẽ hoàn chỉnh, trình Quốc hội ban hành thành luật. Căn cứ Luật, Bộ luật do Quốc hội hoặc Pháp lệnh do Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành, Chính phủ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dƣới các hình thức Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tƣớng Chính phủ để thực thi. Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành các Thông tƣ hƣớng dẫn thực hiện. Trong quá trình thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, Bộ trƣởng Bộ Tài chính có thể ban hành các Chỉ thị, Quyết định của Bộ trƣởng Bộ Tài chính. 1.7. Quá trình đổi mới về thuế tại Việt Nam 1.7.1. Khái quát về hệ thống chính sách thuế Việt Nam Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đƣợc hình thành và phát triển trong thời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986). Trƣớc đó nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu ngân sách Nhà nƣớc chủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh dƣới một số hình thức: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hoá, thuế lợi tức, thuế nông nghiệp, thuế môn bài... vai trò của thuế trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế đƣợc sử dụng rất hạn chế. Đầu những năm 1990, Việt Nam thực hiện cải cách thuế bƣớc I, một hệ thống chính sách thuế mới ra đời và áp dụng thống nhất đối với các thành phần, khu vực kinh tế gồm các sắc thuế cơ bản nhƣ: Thuế doanh thu, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK), Thuế tài nguyên, Thuế lợi tức, Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, Thuế nông nghiệp (từ 1994 chuyển thành là thuế sử dụng đất nông nghiệp), Thuế nhà đất, Thuế chuyển quyền sử dụng đất,... và một số loại phí, lệ phí nhƣ lệ phí trƣớc bạ, lệ phí chứng thƣ, lệ phí giao thông... Sau 10 năm đổi mới, nền kinh tế thị trƣờng đã và đang hình thành, quan hệ đối ngoại của Việt Nam cũng có những cải thiện đáng kể, nền kinh tế - xã hội chuyển sang giai đoạn phát triển mới: thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bối cảnh đó đã đặt ra yêu cầu thực hiện cải cách thuế bƣớc II, bắt đầu từ nửa cuối những năm 90, đƣợc đánh dấu bằng việc Quốc hội ban hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 1997 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999), thay thế Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức. Năm 1998, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), Luật thuế XNK cũng đƣợc sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ. Các Luật thuế quan trọng này tiếp tục đƣợc bổ sung, sửa đổi vào cuối năm 2003, 2005. Nhƣ vậy, sau 2 bƣớc cải cách, hệ thống chính sách thuế hiện hành ở nƣớc ta bao gồm các sắc thuế sau: 9 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 10
(i) Thuế giá trị gia tăng (GTGT), (ii) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), (iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK), (iv) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), (v) Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, (vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp, (vii) Thuế nhà đất, (viii) Thuế chuyển quyền sử dụng đất, (ix) Thuế tài nguyên. (x) Thuế môn bài. Tiếp tục chƣơng trình cải cách thuế bƣớc II, một số dự án luật thuế đang đƣợc nghiên cứu xây dựng để áp dụng trong thời gian tới, nhƣ: dự án Luật thuế sử dụng đất (dự kiến thay thế Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nhà đất hiện hành); dự án Luật thuế tài sản, Luật thuế bảo vệ môi trƣờng. Kể từ 01/01/2009, Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN (mới đƣợc Quốc hội Khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 3, tháng 5/2008), Luật thuế thu nhập cá nhân (đƣợc Quốc hội Khoá XII thông qua tại kỳ họp tháng 11/2007) có hiệu lực, thay thế cho Luật thuế GTGT hiện hành, Luật thuế TNDN hiện hành và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao hiện hành. 1.7.2. Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế Nhà nƣớc) và hệ thống thu thuế XNK (Xem sơ đồ tổ chức) . Hệ thống Thuế Nhà nước: Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ), hệ thống thuế Nhà nƣớc đƣợc thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế đƣợc tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng; cơ quan thuế đặt tại địa phƣơng chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng cấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nƣớc có tƣ cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và đƣợc mở tài khoản tại Kho bạc nhà nƣớc. Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa đƣợc đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin và dịch vụ hỗ trợ ngƣời nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế. Hệ thống Hải quan: Hệ thống Hải quan trƣớc đây trực thuộc Chính phủ, đƣợc tổ chức thành 3 cấp: Tổng cục hải quan (cấp trung ƣơng), Cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (hải quan vùng) và Hải quan cửa khẩu. Hệ thống hải quan đảm nhiệm việc quản lý thu thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu nhƣ: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tiêu thụ 10 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Trang 11
đặc biệt hàng nhập khẩu; thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu; thu thu nhập đối với hàng là quà biếu, quà tặng vƣợt quá tiêu chuẩn miễn thuế. Kể từ 4/9/2002, hệ thống Hải quan (Tổng cục Hải quan) đƣợc chuyển vào trực thuộc Bộ Tài chính (Quyết định 113/2002/QĐ-TTg ngày 4/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ). SƠ ĐỒ HỆ THỐNG BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ HIỆN HÀNH CHÍNH PHỦ Bộ Tài Chính Cục, Vụ, Viện Tổng cục Thuế Tổng cục hải quan Cục thuế tỉnh, TP UBND tỉnh, TP Cục Hải quan trực thuộc TW trực thuộc TW tỉnh, thành phố trực thuộc TW Chi cục thuế UBND quận, quận, huyện huyện Hải quancửa khẩu Trạm, đội thuế xã, phường 2. Thuế giá trị gia tăng (GTGT) 2.1. Khái niệm và tác dụng của thuế GTGT 2.1.1. Khái niệm Thuế GTGT (còn được gọi là VAT - Value Added Tax hoặc TVA -Taxe sur la Valeur Ajoutée) 5 là loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Đƣợc gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế thu đƣợc ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT do ngƣời tiêu dùng cuối cùng chịu, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ là ngƣời nộp thuế vào NSNN thay cho ngƣời tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà ngƣời tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hoá, dịch vụ. 5 Theo Báo cáo tại Hội nghị toàn cầu về thuế GTGT tổ chức tại Italia năm 2005 : “Một trong những thành tựu lớn nhất về cải cách thuế trong thế kỷ XX là việc áp dụng thuế GTGT. Loại thuế này đang đƣợc áp dụng tại 135 nƣớc với khoảng gần 4 tỷ dân số, chiếm 70% dân số thế giới với nguồn thu hàng năm khoảng 18 tỷ đô la Mỹ). 11 http://vietquiz.vn JB.com.vn giangblog.com ThiNganHang.com
Hiển thị 11 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!