[Luận văn] Thực trạng quản lí thu- chi của BHXH Việt Nam
- Số trang
- 82
- Định dạng
- Dung lượng
- 507 KB
- Ngôn ngữ
- VI
- Lượt xem
- 1.226
- Bình luận
- 0
- Lượt tải
- 0
Câu hỏi thường gặp
Làm sao để tải tài liệu này về?
Tài liệu “[Luận văn] Thực trạng quản lí thu- chi của BHXH Việt Nam” có giá 50.000đ. Bạn nạp tiền vào ví qua PayOS, sau đó bấm Tải xuống để mua và tải file gốc về máy.
Tài liệu dài bao nhiêu trang?
Tài liệu gồm 82 trang. Bạn có thể xem trước online trước khi tải.
Tôi có thể xem trước trước khi tải không?
Có. Bạn xem trước tài liệu ngay trên trang này bằng trình đọc online (một số trang đầu), rồi quyết định tải về.
- Tên tài liệu
- [Luận văn] Thực trạng quản lí thu- chi của BHXH Việt Nam
- Mục lục
- Tài liệu không có mục lục rõ ràng.
- Số trang
- 82 trang
- Người đăng
- ThiNganHang
Bản tóm tắt chi tiết đang được tạo. Quay lại sau ít phút nhé.
Đang tạo bản xem trước...
Mô tả
Phần hai Thực trạng quản lý thu - chi của BHXH Việt Nam I. Một vài nét về chính sách BHXH ở Việt Nam qua các giai đoạn 1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1995 Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã sớm quan tâm tới chính sách BHXH, việc thực hiện chính sách BHXH được triển khai khá sớm. Những văn bản pháp luật về BHXH được lần lượt ban hành như: Sắc lệnh số 54/SL ngày 3/11/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời quy định những căn cứ, điều kiện để công chức nhà nước được hưởng chế độ hưu trí; Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/06/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức Nhà nước; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong đó có quy định cụ thể về chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tử tuất đối với công chức Nhà nước; Sắc lệnh số 29/SL ngày 13/03/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 quy định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Đối tượng BHXH lúc này chỉ bao gồm hai đối tượng là công nhân và viên chức Nhà nước, chính sách BHXH bao gồm các chế độ: thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất. Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, thi hành Hiến phápnăm 1959, Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước (kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961). Theo Điều lệ tạm thời, quỹ BHXH được chíh thứuc thành lập và thuộc vào Ngân sách Nhà nước. Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước phải nộp một tỉ lệ phần trăm nhất định so với tổng quĩ lương, công nhân viên chức Nhà nước không phải đóng góp cho quỹ BHXH. Các chế độ BHXH được thực hiện gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. jb.com.vn 2 Trong thời kỳ từ năm 1950 tới năm 1995, có thể chia ra làm ba giai đoạn sau: - Thời kỳ 1950 tới năm 1962: tình hình kinh tế, tài chính giai đoạn này khó khăn nên quỹ BHXH chưa được thành lập; về chế độ BHXH chỉ mới được thực hiện hai chế độ là: hưu trí và nghỉ mất sức. Mức hưởng còn mang tính bình quân với tinh thần chủ yếu là "đồng cam, cộng khổ", chưa mang tính chất lâu dài. Các khoản chi về hưu trí và mất sức lao động còn lẫn lộn với tiền lương nên còn rất khó khăn trong công tác hạch toán. Toàn bộ chi phí cho hoạt động BHXH được lấy từ nguồn chi Ngân sách Nhà nước, công nhân viên chức khi được hưởng trợ cấp BHXH chỉ được hưởng trợ cấp một lần, với mức hưởng bằng 1 năm công tác được một tháng lương, tối đa không quá 6 tháng lương (theo điều 35 Sắc lệnh 77/SL quy định). - Thời kỳ từ năm 1962 cho tới quý II năm 1964: giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Điều lệ tạm thời gắn liền với việc quản lý sự nghiệp BHXH của Tổng Công đoàn Việt Nam (hiện nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), theo quy định thì Tổng Công đoàn Việt Nam chịu trách nhiệm thực hiện sự nghiệp BHXH, quản lý việc thực hiện 6 chế độ theo Điều lệ tạm thời (bao gồm các chế độ: ốm đau, hưu trí, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tử tuất và mất sức lao động). Cũng theo Điều lệ tạm thời này, quỹ BHXH đã được chính thức thành lập và thuộc vào Ngân sách Nhà nước, những người lao động tham gia BHXH không phải đóng góp vào quỹ BHXH, những đơn vị sử dụng lao động chỉ phải nộp một tỷ lệ nhất định so với tổng quỹ lương tháng dùng để chi trả cho những người lao động trong đơn vị. - Thời kỳ từ quý II năm 1964 tới năm 1995: giai đoạn này được đánh dấu bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP ngày 20/3/1963 giao trách nhiệm quản lý sự nghiệp BHXH cho 2 tổ chức là: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức và thực hiện 3 chế độ ngắn hạn là: ốm đau, thai sản, jb.com.vn 3 tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Bộ Nội vụ (nay là bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) quản lý và thực hiện 3 chế độ dài hạn còn lại. Ngày 10/07/1965, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 62/CP giao trách nhiệm quản lý một phần quỹ BHXH cho Bộ Nội vụ. Chính phủ ban hành Nghị định 43/S
[Luận văn] Thực trạng quản lí thu- chi của BHXH Việt Nam
Đang tạo bản xem trước...
Phần hai Thực trạng quản lý thu - chi của BHXH Việt Nam I. Một vài nét về chính sách BHXH ở Việt Nam qua các giai đoạn 1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1995 Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã sớm quan tâm tới chính sách BHXH, việc thực hiện chính sách BHXH được triển khai khá sớm. Những văn bản pháp luật về BHXH được lần lượt ban hành như: Sắc lệnh số 54/SL ngày 3/11/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời quy định những căn cứ, điều kiện để công chức nhà nước được hưởng chế độ hưu trí; Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/06/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức Nhà nước; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong đó có quy định cụ thể về chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tử tuất đối với công chức Nhà nước; Sắc lệnh số 29/SL ngày 13/03/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 quy định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Đối tượng BHXH lúc này chỉ bao gồm hai đối tượng là công nhân và viên chức Nhà nước, chính sách BHXH bao gồm các chế độ: thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất. Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, thi hành Hiến phápnăm 1959, Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước (kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961). Theo Điều lệ tạm thời, quỹ BHXH được chíh thứuc thành lập và thuộc vào Ngân sách Nhà nước. Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước phải nộp một tỉ lệ phần trăm nhất định so với tổng quĩ lương, công nhân viên chức Nhà nước không phải đóng góp cho quỹ BHXH. Các chế độ BHXH được thực hiện gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. jb.com.vn 2 Trong thời kỳ từ năm 1950 tới năm 1995, có thể chia ra làm ba giai đoạn sau: - Thời kỳ 1950 tới năm 1962: tình hình kinh tế, tài chính giai đoạn này khó khăn nên quỹ BHXH chưa được thành lập; về chế độ BHXH chỉ mới được thực hiện hai chế độ là: hưu trí và nghỉ mất sức. Mức hưởng còn mang tính bình quân với tinh thần chủ yếu là "đồng cam, cộng khổ", chưa mang tính chất lâu dài. Các khoản chi về hưu trí và mất sức lao động còn lẫn lộn với tiền lương nên còn rất khó khăn trong công tác hạch toán. Toàn bộ chi phí cho hoạt động BHXH được lấy từ nguồn chi Ngân sách Nhà nước, công nhân viên chức khi được hưởng trợ cấp BHXH chỉ được hưởng trợ cấp một lần, với mức hưởng bằng 1 năm công tác được một tháng lương, tối đa không quá 6 tháng lương (theo điều 35 Sắc lệnh 77/SL quy định). - Thời kỳ từ năm 1962 cho tới quý II năm 1964: giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Điều lệ tạm thời gắn liền với việc quản lý sự nghiệp BHXH của Tổng Công đoàn Việt Nam (hiện nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), theo quy định thì Tổng Công đoàn Việt Nam chịu trách nhiệm thực hiện sự nghiệp BHXH, quản lý việc thực hiện 6 chế độ theo Điều lệ tạm thời (bao gồm các chế độ: ốm đau, hưu trí, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tử tuất và mất sức lao động). Cũng theo Điều lệ tạm thời này, quỹ BHXH đã được chính thức thành lập và thuộc vào Ngân sách Nhà nước, những người lao động tham gia BHXH không phải đóng góp vào quỹ BHXH, những đơn vị sử dụng lao động chỉ phải nộp một tỷ lệ nhất định so với tổng quỹ lương tháng dùng để chi trả cho những người lao động trong đơn vị. - Thời kỳ từ quý II năm 1964 tới năm 1995: giai đoạn này được đánh dấu bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP ngày 20/3/1963 giao trách nhiệm quản lý sự nghiệp BHXH cho 2 tổ chức là: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức và thực hiện 3 chế độ ngắn hạn là: ốm đau, thai sản, jb.com.vn 3 tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Bộ Nội vụ (nay là bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) quản lý và thực hiện 3 chế độ dài hạn còn lại. Ngày 10/07/1965, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 62/CP giao trách nhiệm quản lý một phần quỹ BHXH cho Bộ Nội vụ. Chính phủ ban hành Nghị định 43/S
Đọc toàn bộ tài liệu
- Tên tài liệu
- [Luận văn] Thực trạng quản lí thu- chi của BHXH Việt Nam
- Mục lục
- Tài liệu không có mục lục rõ ràng.
- Số trang
- 82 trang
- Người đăng
- ThiNganHang
Bản tóm tắt chi tiết đang được tạo. Quay lại sau ít phút nhé.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Tiểu luận - Phân tích Lý thuyết bàn tay vô hình của A.Smith và những bài học cho Việt Nam
[Báo cáo thực tập] Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Sunhouse
Bài tiểu luận 9,5 điểm - Chuyên Đề Khởi Sự kinh doanh về ý tưởng khởi nghiệp
[Khóa luận] Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Cơ khí xây dựng VDC
[Đề án] Xuất khẩu vải thiều Bắc Giang vào thị trường Mỹ
Tiểu luận - Kinh tế phát triển - Phân tích nhận định "Việt Nam đã kiên định chọn hướng phát triển lấy con người làm trọng tâm ..."
600 Câu trắc nghiệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề cương - Luật vận tải
Tài liệu ôn tập Nguyên lý kế toán
Bài tập Xác suất thống kê đại học - có lời giải

Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!