Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHẠM THỊ BÍCH THỦY PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60.38.01.07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.Trần Đình Hảo HÀ NỘI, 2016
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN PHẠM THỊ BÍCH THỦY
Trang 3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU.....................................................................................................................6 1.1. Khái niệm nợ xấu.................................................................................................6 1.2. Cấu trúc của pháp luật về xử lý nợ xấu của Việt Nam ......................................12 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TỪ THỰC TIỄN CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM ..............................................................................................................19 2.1. Khái quát về công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam.........................19 2.2. Hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC..................................................................31 Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM ..................................................59 3.1. Định hướng xử lý nợ xấu ở Việt Nam ...............................................................59 3.2. Những giải pháp cụ thể được đề xuất ................................................................61 KẾT LUẬN..............................................................................................................69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: .............................................................70
Trang 4
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, cùng với việc mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng với sự ra đời một số lượng lớn các ngân hàng thương mại, tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh chóng thường chứa ẩn nguy cơ của sự thiếu bền vững. Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, kiểm soát đặc biệt. Sự đổ vỡ này ảnh hưởng lớn đến ổn định của nền kinh tế, niềm tin dân chúng và yêu cầu chúng ta phải có một cái nhìn nghiêm túc về vấn đề này. Một trong những nguyên nhân của tình trạng đổ vỡ, không thể không nhắc đến nợ xấu. Nợ xấu được ví như một “cục máu đông” làm tắc nghẽn dòng chảy tín dụng. Mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước chuyển mình phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế theo hướng đa dạng hóa các hoạt động nghiệp vụ, tăng dần tỷ trọng dịch vụ, giảm dần tỷ trọng tín dụng. Tuy nhiên, không phủ nhận rằng hiện tại tín dụng vẫn là nguồn thu, hoạt động chính của các ngân hàng. Do vậy, kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế và xử lý nợ xấu là vấn đề được các cơ quan lý nhà nước, nhà hoạch định chính sách và ngân hàng đặc biệt quan tâm. Xử lý nợ xấu và tái cơ cấu doanh nghiệp hiện là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà Chính phủ yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan phải triển khai quyết liệt. Điều này nhận thấy rõ trong các Nghị quyết của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các năm từ 2013 đến 2016, nhiệm vụ tái cơ cấu doanh nghiệp và xử lý nợ xấu luôn là nhiệm vụ được đề cập tại mục đầu tiên. Nợ xấu khi chưa ở mức nghiêm trọng, đe dọa đến sự an nguy của hệ thống thì đó là vấn đề nội bộ của mỗi ngân hàng và thường được xử lý bằng các biện pháp truyền thống như phân loại, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro. Nhưng khi nợ xấu ở mức cao, có nguy cơ đe dọa hệ thống thì Chính phủ các nước phải đóng vai trò chủ 1
Trang 5
đạo trong việc tổ chức, triển khai quá trình xử lý và cốt yếu cần có thiết chế chuyên nghiệp đứng ra xử lý nợ xấu. Mỗi quốc gia, bằng các giải pháp khác nhau, các kênh khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để xây dựng một thiết chế phù hợp. Trong rất nhiều thiết chế hỗ trợ của Chính phủ với ngành ngân hàng để xử lý nợ xấu thì việc thành lập mô hình công ty quản lý tài sản là một trong những biện pháp hữu hiệu mà rất nhiều quốc gia đang áp dụng. Tại Việt Nam, ngày 31/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 843/QĐ-TTg phê duyệt đề án xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và đề án thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Vietnam Asset Management Company -VAMC). Mặc dù mới đi vào hoạt động trong 3 năm, VAMC đã đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xử lý nợ xấu ở Việt Nam, đặc biệt trong nỗ lực đưa nợ xấu của ngành ngân hàng xuống dưới 3% giai đoạn vừa qua. Sự ra đời và hoạt động của VAMC đã thu hút sự quan tâm của dư luận và là đề tài nghiên cứu của nhiều học giả, báo chí. Vậy thực chất VAMC đã làm gì trong thời gian qua, hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC được thực hiện thông qua các quy định pháp luật nào và còn những vấn đề gì đặt ra cần có sự điều chỉnh kịp thời để đảm bảo hoạt động của VAMC thực sự có hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu xử lý nợ xấu hiện nay? Đây chính là nội dung mà tác giả lựa chọn nghiên cứu trong phạm vi của đề tài “Pháp luật về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ thực tiễn Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam” và mong muốn thông qua góc nhìn về xử lý nợ xấu của VAMC đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về nợ xấu. Tuy nhiên, cơ bản tập trung ở các bài nghiên cứu trao đổi, điển hình như: Đánh giá sự phù hợp trong lộ trình, cách thức và hoàn thiện cơ cấu cho VAMC của TS. Nguyễn Quốc Hùng (Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty VAMC) năm 2014; Kinh 2
Trang 6
nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam của PGS.TS.Tô Ngọc Hưng (Giám đốc Học viện Ngân hàng) năm 2012; Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn hoạt động của VAMC của PGS.TS. Kiều Hữu Thiện (Học viện Ngân hàng) năm 2014; So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt Nam và thông lệ quốc tế của TS. Đinh Thanh Vân năm 2012; Giải quyết nợ xấu, vấn đề mấu chốt trong tái cơ cấu ngân hàng của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương-CIEM năm 2013; Ngân hàng thương mại Việt Nam: Từ những thay đổi về luật và chính sách giai đoạn 2006-2010 đến các sự kiện tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015 của tác giả Nguyễn Xuân Thành (Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, TP. Hồ Chí Minh) năm 2016; Luận văn thạc sỹ “So sánh pháp luật Việt Nam và Malaysia về mô hình công ty quản lý tài sản của các TCTD” của Nguyễn Thị Phương Nga (Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2014, v.v. Những nghiên cứu này sâu sắc về mặt khoa học và có ý nghĩa thực tiễn. Tuy nhiên, các nghiên cứu hoặc chỉ đề cập đến VAMC như là một trong những giải pháp xử lý nợ xấu hoặc tiếp cận ở góc độ khái quát chung những vấn đề về nợ xấu, xử lý nợ xấu của VAMC mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể từng quy định pháp luật về xử lý nợ xấu của VAMC. Kế thừa thành tựu của những nghiên cứu trước đây, trong đề tài này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu những quy định pháp luật cụ thể trong quá trình VAMC xử lý nợ xấu và thực tế áp dụng hiện nay, từ đó kiến nghị những giải pháp trực tiếp cho quá trình xử lý nợ xấu ở Việt Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích. Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu qua VAMC, những kết quả thực tiễn VAMC đạt được trong thời gian qua cũng như những khó khăn, vướng mắc VAMC gặp phải trong công tác xử lý nợ xấu. Từ đó đưa ra những giải pháp thực thi góp phần hoàn thiện khung pháp lý trong hoạt động 3
Trang 7
của VAMC, thông qua góc nhìn VAMC đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của Việt Nam hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ. Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các quan điểm, khái niệm về nợ xấu, cấu trúc pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam; Nghiên cứu tình hình nợ xấu của Việt Nam trước khi VAMC ra đời để làm rõ tính cấp thiết việc thành lập VAMC, đồng thời đánh giá một số mô hình công ty quản lý tài sản trên thế giới nhằm tìm ra các gợi ý về mặt chính sách với Việt Nam. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về xử lý nợ xấu qua VAMC và thực tiễn áp dụng những quy định này; Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu ở Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi giới hạn nhất định, luận văn không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến xử lý nợ xấu ở Việt Nam cũng như toàn bộ các vấn đề liên quan đến VAMC. Phạm vi của luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu qua VAMC. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Là một đề tài thuộc khoa học xã hội, luận văn được đặt trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy quan điểm của Đảng về việc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới làm kim chỉ nam cho mọi nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Trên các nền tảng lý luận đó, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, v.v. 4
Hiển thị 7 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!