Giới thiệu chung về các Hoạt động kinh doanh và Báo cáo tài chính - Full Bright

THThiNganHang
0 lượt tải
22
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Kế toán tài chính – 1st ed. Niên khóa 2011-2013 Bài đọc Ch.1: Giới thiệu chung về các hoạt động kinh doanh và báo cáo tài chính Chương 1 GIGIỚỚI TI THHIIỆỆU CU CHHUUNNGG VVỀỀ CÁCÁCC HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNGNG KKIINNHH DODOAANNHH VVÀÀ CCÁÁCC BBÁÁOO CCÁÁOO TTÀÀII CCHHÍÍNHNH Stickney & Weil, Kế toán Tài chính: Giới thiệu về khái niệm, phương pháp và công dụng, Nhà xuất bản Dryden, năm 1997. Bản dịch tiếng Việt do Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM biên soạn và thực hiện. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc dịch thuật. Trong trường hợp có khác biệt thì tài liệu nguyên gốc sẽ được sử dụng làm căn cứ. Mục đích môn học: 1. Cung cấp kiến thức tổng quát về bốn hoạt động chủ yếu trong các doanh nghiệp: (a) xác định mục tiêu và chiến lược thực hiện, (b) huy động vốn, (c) đầu tư, và (d) tổ chức thực hiện. 2. Cung cấp kiến thức tổng quát về mục đích và nội dung của ba loại báo cáo tài chính chủ yếu mà các doanh nghiệp cần thực hiện để đo lường và báo cáo kết quả hoạt động: (a) bảng cân đối kế toán, (b) báo cáo thu nhập, và (c) báo cáo ngân lưu. 3. Phát triển tính nhạy bén đối với các vấn đề về tài chính, bao gồm: (a) sử dụng các báo cáo kế toán tài chính vào các mục đích khác nhau, (b) các phương pháp tiếp cận khác nhau để xây dựng các tiêu chuẩn báo cáo tài chính, (c) vai trò của việc kiểm toán độc lập đối với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, và (d) vai trò của báo cáo tài chính trong thị trường vốn. Chúng ta hãy bắt đầu. Bạn có mong muốn được bắt đầu tìm hiểu về kế toán tài chính với khoá học này không? Nhiều sinh viên khi đến với môn học này đã nghĩ rằng kế toán là một môn học nhàm chán với các chi tiết quá tỉ mỉ và không mang tính sáng tạo. Những hình ảnh về các kế toán viên và công việc của họ mà bạn đã từng xem trên phim ảnh, ti vi đã càng khẳng định thêm các ý nghĩ này. Chúng tôi cho rằng kế toán sẽ làm bạn ngạc nhiên. Kế toán là ngôn ngữ của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các hoạt động kinh doanh có tốc độ thay đổi nhanh và nó luôn phải đối phó với những thử thách thú vị trong suốt thập niên vừa qua. Ví dụ như hãy xét đến các tiến bộ trong công nghệ thông tin, việc mở rộng hoạt động kinh doanh toàn cầu đến những quốc gia trước đây việc đi lại còn hạn chế, các cuộc suy thoái kinh tế, việc phá sản thường xuyên, và việc quan tâm nhiều hơn đến môi trường. Tốc độ thay đổi trong tương lai dường như chẳng giảm đi, và hướng thay đổi vẫn chưa chắc chắn. Ngành kế toán cố góp phần giải mã sự phức hợp này bằng cách đo lường kết quả của hoạt động kinh doanh và tổng hợp kết quả đo được dưới hình thức các bảng báo cáo tài chính mà người sử dụng có thể đọc và hiểu được ý nghĩa. Có thể bạn sẽ không trở thành một kế toán viên (mặc dù một số khác thì có thể). Khả năng cao hơn là bạn sẽ sử dụng kế toán tài chính như là một công cụ để ra các quyết định về sản xuất, tiếp thị, đầu tư, huy động vốn, hoặc các quyết định kinh doanh khác. Mục đích việc học tập của bạn (và của quyển sách này) là giúp bạn có một kiến thức cần thiết về kế toán tài chính, để có thể sử dụng một cách hiệu quả các dữ liệu kế toán. Mặc dù phần lớn các giáo sư (và tác giả của các sách giáo khoa) có thể nhất trí với mục đích khoá học, chúng ta có thể không nhất trí về phương Clyde P. Stickney & Roman Weil 1 Biên dịch: Kim Dung Hiệu đính: Bùi Văn

Trang 2

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Kế toán tài chính – 1st ed. Bài đọc Ch.1: Giới thiệu chung về các hoạt động kinh doanh và báo cáo tài chính thức hiệu quả nhất để thực hiện mục đích. Câu hỏi thường thấy là: Sinh viên phải học kế toán đến mức nào để có thể phân tích và diễn dịch các báo cáo tài chính một cách hiệu quả. Những khoá học tài chính kế toán khác nhau đặt trọng tâm khác nhau trên ba phần chính của môn học: khái niệm, phương pháp, và cách sử dụng. Chúng ta biết là sinh viên trở thành người sử dụng thông minh các thông tin kế toán tài chính nhờ nắm chắc các khái niệm làm nền tảng cho báo cáo tài chính. Việc hiểu biết các khái niệm về kế toán không những cho phép diễn dịch các báo cáo tài chính sẵn có mà còn cho phép suy luận các phương pháp kế toán và các dạng báo cáo được sử dụng ở các nước khác. Các phương pháp kế toán nối kết các khái niệm kế toán với các bảng báo cáo tài chính. Kế toán viên sử dụng những phương pháp này để tích lũy các dữ liệu thu được từ giao dịch kinh doanh và tổng hợp/ tóm tắt các dữ liệu này vào các báo cáo tài chính. Như vậy, hiểu được phương pháp sẽ giúp cho việc hiểu được khái niệm kế toán, và đổi lại, các khái niệm kế toán giúp diễn dịch các thông tin tài chính. Tầm quan trọng tương đối mà chúng tôi áp đặt cho các khái niệm, các phương pháp và việc sử dụng kế toán đã hình thành từ kinh nghiệm của chúng tôi khi giảng dạy khoá tài chính kế toán nhập môn. Chúng tôi hy vọng rằng tất cả những điều trên sẽ giúp các bạn hứng thú hơn trong việc học môn kế toán tài chính để hiểu rõ hơn các báo cáo tài chính. Chương này được xem như phần giới thiệu chung cho cả quyển sách. Chúng ta sẽ bắt đầu với việc tìm hiểu xem một công ty điển hình thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình như thế nào. Kế đến chúng ta sẽ xem xét công ty đó đo lường các kết quả hoạt động kinh doanh của mình như thế nào và báo cáo ra sao trong các bảng báo cáo tài chính. Tiếp đến chúng ta sẽ nêu lên các vấn đề về các phương pháp báo cáo tài chính. Chương này sẽ giới thiệu qua những vấn đề được đề cập sâu hơn trong những chương tiếp sau. Mục đích của chương, như đã nêu trên tựa đề, là phác họa một bức tranh lớn về các khái niệm, phương pháp, còn cách thức sử dụng sẽ được thảo luận sau. GIỚI THIỆU CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Các công ty chuẩn bị các báo cáo tài chính cho những người sử dụng bên ngoài khác nhau: các chủ nhân, những người cho vay, công nhân viên… Các báo cáo nhằm trình bày các thông tin về các hoạt động kinh doanh của công ty. Để thông hiểu các báo cáo tài chính này đòi hỏi một sự thông hiểu các hoạt động kinh doanh mà nó cố gắng minh hoạ. Ví dụ 1: Joe Soft và Jane Ware, trong khi học để lấy bằng tin học, đã sáng tạo ra phần mềm theo dõi hoạt động của động cơ xe hơi. Họ đã đăng ký bản quyền sáng chế và muốn thành lập công ty riêng để sản xuất và bán phần mềm này. Họ quyết định đặt tên công ty là Công ty SoftWare. Phần tiếp theo sẽ miêu tả một vài hoạt động kinh doanh quan trọng mà những nhà quản lý của Công ty SoftWare phải hiểu được. THIẾT LẬP MỤC TIÊU VÀ CHIẾN LƯỢC Mục đích của công ty là đích hay kết quả cuối cùng mà công ty hướng các năng lượng của mình tới. Chiến lược của công ty trình bày phương tiện để đạt được mục đích này.Các công ty xác định mục tiêu và chiến lược có xét đến môi trường kinh tế, xã hội và văn hoá trong đó dự kiến công ty sẽ hoạt động. Ví dụ, một công ty có thể xác định mục tiêu để: tối đa hoá lợi nhuận cho chủ công ty; cung cấp môi trường làm việc nhiệt tình và ổn định cho công nhân viên; và Clyde P. Stickney & Roman Weil 2 Biên dịch: Kim Dung Hiệu đính: Bùi Văn

Trang 3

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Kế toán tài chính – 1st ed. Bài đọc Ch.1: Giới thiệu chung về các hoạt động kinh doanh và báo cáo tài chính đóng góp và hòa hợp với mục tiêu và chính sách chung của cả nước. Các nhà quản trị xây dựng chiến lược cho công ty như một tổng thể. Ví dụ, một công ty có thể lựa chọn hoạt động trong một hay nhiều ngành công nghiệp. Nó có thể mở rộng về phía sản xuất nguyên liệu thô (backward integrate) hoặc về phía phân phối sản phẩm đến khách hàng. Nó có thể chỉ hoạt động trong nước hoặc hoạt động ra cả nước ngoài. Các nhà quản trị cũng xác định chiến lược cho từng loại hình hoạt động hoặc từng sản phẩm. Chẳng hạn như, một công ty có thể nỗ lực tìm thị trường độc đáo cho từng sản phẩm của mình. Chiến lược này cho phép công ty có thể bán giá cao hơn so với các nhà cạnh tranh, thu tiền từ khách hàng để bù lại cho chi phí tăng thêm của mình. (Thuật ngữ kinh doanh gọi đó là "chiến lược sản phẩm khác biệt"). Một số công ty có thể nhấn mạnh vào kiểm soát giá thành và cố gắng trở thành người có giá thành thấp nhất. Chiến lược này cho phép công ty giảm giá bán mạnh mẽ để bán được số nhiều. (Thuật ngữ kinh doanh gọi đây là “chiến lược đi đầu trong giảm giá thành”). Một vài sản phẩm có thể thích hợp với chiến lược này hay chiến lược khác, trong khi công ty có thể theo đuổi một hoặc cả hai chiến lược cho các sản phẩm khác của họ. Công ty phần mềm thiết lập mục tiêu là phát triển một chuỗi liên tục các phần mềm có chất lượng tốt, để sản xuất và bán thu lợi nhuận, từ đó tăng giá trị của công ty và tài sản của chủ công ty. Các chiến lược để đạt được mục tiêu này bao gồm: 1. Công ty sẽ tự sản xuất tất cả các sản phẩm nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm. 2. Các nhân viên bán hàng còn kiêm thêm cả dịch vụ cho thiết bị để tạo được mối quan hệ làm việc thân thiết với khách hàng. 3. Công ty sẽ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nhằm thúc đẩy việc sáng tạo sản phẩm mới. HUY ĐỘNG VỐN Trước khi Công ty SoftWare bắt tay vào hoạt động kinh doanh, cần phải có nguồn vốn cần thiết. Có thể huy động vốn từ hai nguồn chủ yếu: chủ sở hữu và người cho vay. Chủ sở hữu: Chủ sở hữu cấp vốn cho công ty, để đổi lại họ nhận những bằng chứng về quyền sở hữu của họ. Khi một công ty là công ty cổ phần, cổ phiếu thường là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của họ, và họ được gọi là cổ đông. Công ty không phải hoàn lại vốn cho chủ sở hữu vào một thời điểm xác định trước. Thay vào đó, chủ sở hữu nhận được từ công ty lãi cổ phần, thường gọi là cổ tức. Chủ sở hữu cũng làm chủ phần giá trị gia tăng mà công ty có được nhờ những hoạt động có lãi trong tương lai. Người cho vay: Khác với chủ sở hữu, người cho vay cấp vốn và yêu cầu công ty trả lại, thường là với tiền lãi, vào một ngày xác định. Thời hạn trả nợ có thể dài ngắn khác nhau. Người cho vay dài hạn có thể cấp vốn và không yêu cầu trả trong vòng 20 năm hoặc hơn nữa. Trái phiếu thường là bằng chứng cho những khoản vay như thế. Thỏa thuận đối với trái phiếu thường là công ty vay hứa sẽ thanh toán tiền lãi vào những ngày nhất định trong tương lai, còn khoản nợ gốc sẽ được thanh trả khi hết thời hạn qui định trước. Ngân hàng có thể cho vay trong thời gian vài tháng hoặc vài năm. Bằng chứng vay là phiếu nợ (note), trong đó công ty cam kết trả số tiền đã vay cùng với tiền lãi vào một ngày xác định. Những người cung cấp nguyên liệu thường không nghĩ là chính họ đã cấp vốn cho công ty. Clyde P. Stickney & Roman Weil 3 Biên dịch: Kim Dung Hiệu đính: Bùi Văn

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!