Trang 1
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lời Mở Đầu Không ngừng đổi mới, phát triển và hoàn thiện dịch vụ thanh toán trung gian của ngân hàng luôn là yêu cầu cần thiết, khách quan trong nền kinh tế – xã hội nói chung và của các tổ chức tín dụng nói riêng. Để phát triển và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, từng bước phù hợp với nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, Quyết định số 22/QĐ-NH1, ngày 21/2/1994 và thông tư 08/TT-NH2 ngày 2/6/1994 về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt của thống đốc ngân hàng nhà nước đã được ban hành. Trong đó có chủ trương phát triển tài khoản cá nhân, mở rộng dịch vụ thanh toán trong dân cư. Đây là một bước ngoặt trong thiết chế tổ chức thanh toán của hệ thống ngân hàng đối với khu vực dân cư, đánh dấu tiến trình vận động và thích ứng mới của công tác thanh toán trong nền kinh tế chuyển đổi. Phát triển tài khoản cá nhân và mở rộng thanh toán qua ngân hàng là một chủ trương lớn của Ngân hàng nhà nước. Nó giúp chuyển dịch cơ cấu tổng phương tiện thanh toán theo hình chóp lật ngược như của các nước phát triển trên thế giới: Lớp trên cùng là số dư tiền gửi không kỳ hạn, Lớp thứ hai là tiền gửi có kỳ hạn, Lớp thứ ba -lớp cuối cùng- là tiền mặt chiếm khối lượng giá trị nhỏ; Đồng thời giúp hệ thống ngân hàng huy động được vốn lớn tiềm tàng,nhàn rỗi trong dân, giải quyết bài toán hóc búa về huy động vốn, tăng đầu tư vốn vào nền kinh tế quốc dân và gióp phần đạt mục tiêu : Đầu tư vào nền kinh tế từ 57 tới 60 tỷ USD trong thời kỳ 2001-2005, Mức tăng trưởng kinh tế đất nước đạt 7,5% như đã định. Tài khoản cá nhân là một sáng tạo lớn trong qua trình phát triển của ngân hàng thương mại, là một giải pháp cơ bản, lâu dài và hữu hiệu, có khả năng tạo ra sự đột phá trong hoạt động thu hút dân cư đến với ngân hàng ngoại thương việt nam nhất là trong điều kiện có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng ở việt nam trong thòi điểm hiện nay. Chính vì vai trò tạo nền tảng ,cơ sở cho mọi giao dịch của dân cư của tài khoản cá nhân, cũng như vài trò to lớn của nó đối với sự phát triển của toàn hệ thống ngân hàng việt nam, và sự tiến bộ của xã hội nên em chọn đề tài : “ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÀI KHOẢN CÁ NHÂN TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM ” cho luận văn tốt nghiệp của mình. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
Trang 2
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Chương I I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Sản xuất và lưu thông hàng hoá đã sáng tạo ra tiền tệ ,tiền tệ bằng vàng là loại tiền được sử dụng phổ biến , khá lâu dài trong lịch sử phát triển sản xuất của loài người. trong quá trình đó nó đã tự bộc lộ ra hai hạn chế cơ bản đối với lưu thông hàng hoá: -Thanh toán bằng vàng nặng nề nên tổ chức lưu thông tiền tệ không thuận tiện, kém an toàn. -Trong điều kiện nền kinh tế phát triển chưa cao, còn trong tình trạng cát cứ, mỗi vùng sử dụng một đồng tiền riêng mặc dù các đồng tiền được sử dụng đều là vàng song chúng khác nhau về hình dạng, mẫu mã, kích thước vì vậy khi trao đổi cần thiết phải đổi trác các đồng tiền đó với nhau .Từ đó một số thợ vàng tách ra làm nhiệm vụ giữ tiền và đổi trác tiền đúc cho khách hàng. Sự ra đời và phát triển của nên sản xuất hàng hoá đã làm cho người đổi trác tiền đúc giầu lên nhanh chóng, làm xuất hiện hai sự kiện cơ bản: 1-Biến người đổi trác tiền đúc thành ông chủ ngân hàng. khách hàng gửi tiền khi mua bán hàng hoá thay cho việc thanh toán trực tiếp bằng vànghọ trao cho đối tácbức thư chuyển nhượng quyền sởhữu số vàng mà người thợ vàng đang giữ hộ.như vậy người thợ vàng ban đầu chỉ nhận tiền gửi và đổi trác đã tiến thêm một bước thanh toán hộ cho khách hàng. với phương thức thanh toán này không những khắc phục được những hạn chế cố hữu trong thanh toán trực tiếp bằng vàng, mà còn làm cho lưu thông hàng hoá trở nên thuận tiện, nhanh chóng, tiết kiệm hơn rất nhiều. 2-Sự kiện thứ hai: người thợ vàng tập trung trong tay rất nhiều vàng tạm thời nhàn rỗi, do là những người rất thông minh và linh hoạt nên họ nhận ra rằng luôn tồn tại một lượng tiền khá ổn định do trên thực tế không thể xảy ra trường hợp tất cả người gửi tiền tới đòi tiền cùng một lúc, hơn nữa một số người tới đòi tiền trong khi một số khác lại tới gửi tiền hai loại này triệt tiêu cho nhau.Người thợ vàng dùng số tiền này cho vay mà vẫn an toàn và tăng thêm thu nhập. khi người thợ vàng đồng thời cung cấp đủ bốn dịch vụ : nhận tiền gửi, đổi tiền, thanh toán hộ, cho vay thì khi đó ngân hàng thương mại ra đời- đánh dấu sự ra đời của một định chế tài chính mà sự tồn tại và phát triển của nó về sau sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng và có tính quyết định đối với tất cả các thể chế kinh tế trong tương lai. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
Trang 3
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Nghiệp vụ của ngân hàng hình thành rất sớm nhất vào thế kỷ XIV , ở những thành phố thuộc nước ý. nhưng ngân hàng thực sự theo quan niệm ngày nay tới thế kỷ XVI mới bắt đầu phổ biến ở các nước châu âu ngân hàng từ kế kỷ XVII tới nay đặc biệt từ cuối thế kỷ 19 cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự phát triển như vũ bão về kinh tếmà hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển mạnh mẽ, các ngân hàng đáp ứng mọi nhu cầu của sản xuất kinh doanh trực tiếp đối với doanh nghiệp và cá nhân thông qua thực hiện bốn nghiệp vụ chính : nghiệp vụ nợ , nghiệpvụ có ,thanh toán trung gian, các nghiệp vụ riêng có của các ngân hàng. -Nghiệp vụ nợ: bao gồm tất cả các nghiệp vụ tạo lập nguồng vốn toạ cơ sở vật chất cho hoạt động của ngân hàng ,chủ yếu là nhận tiền gửi từ các tổ chức, mọi người dân.để huy động được nhiều tiền gửi ngân hàng cung cấp cho người dân nhiều lựu chọn bằng cánh đưa ra nhiều hình thức huy động khác nhau : tài khoản vãng lai , tài khoản tiết kiệm với nhiều thời hạn khác nhau...ngoài ra ngân hàng còn nhận được tiền gửi từ những ngân hàng khác khi nó nhận làm đại lý, chiết khấu thương phiếu,hay cho vay cầm cố kỳ phiếu, chứng khoán có gía. -Nghiệp vụ có :bao gồmtất cả các nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của ngân hàng trong đó quan trọng nhất phải kể tới là nghiệp vụ cho vayđối với doanh nghiệp và cho vay tiêu dùng. tuỳ theo mục đích sử dụng vốn của khách hàng mà ngân hàng cho vay với thời hạn khác nhau ngắn- trung -dài hạn, dưới hình thức cho vay có bảo đảm, không bảo đảm , có thế chấp hay không có thế chấp, cho vay trên cơ sở chiết khấu thương phiếu,chứng khoán,giấy tờ có giá. Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư chứng khoán. -Nghiệp vụ trung gian thanh toán: bao gồm tất cả các hoạt động dạng về cung cấp dịch vụ cho khách hàng -Nghiệp vụ riêng có của các ngân hàng 2. Vai trò của thanh toán qua ngân hàng Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, quy mô thanh toán qua ngân hàng ngày càng được mở rộng ,vai trò trung gian thanh toán ngày càng được khẳng định bởi ngân hàng luôn áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ mới vào hoạt động thanh toán và thật khó tưởng tượng được một nền kinh tế phát triển mà lại không có ngân hàng tham gia với tư cách là trung gian thanh toán. Trước khi ngân hàng xuất hiện mọi thanh toán đều diễn ra trực tiếp giữa người mua và người bán bằng tiền, phương thức thanh toán này có ngược điểm là tốn chi phí vận chuyển , chi phí kho quỹ, bảo quản, tốn nhiều công sức và thời gian đồng thời gây sự lãng phí do vốn bị tồn đọng trước khi thanh toán. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
Trang 4
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Ngân hàng ra đời đảm nhận chức năng quản lý, thanh toán hộ cho cả hai bên mua và bán, khi khách hàng thiếu vốn ngân hàng cho vay để hoàn thành nghĩa vụ thanh toán. Như vậy nhờ có ngân hàng tất cả những khó khăn ,bất tiện trong thanh toán bằng tiền mặt chuyển sang cho ngân hàng doanh nghiệp trở nên tự do hơn,vốn của nó được sử dụng hiệu quả hơn từ đó gióp phần nâng cao giá trị tài sản của doanh nghiệp. Bằng việc sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng , khách hàng cá nhân không còn phải lo lắng tới việc thanh toán tiền điện nước bảo hiểm nhân thọ... mỗi tháng và sẽ không phải thuê xe tải, máy bay để chở tiền khi muốn mua một ngôi nhà lớn hoặc đi du lịch ,ký kết hợp đồng ở nước ngoài... thanh toán không dùng tiên mặt tạo khả năng bù trừ nợ nần giữa các khách hàng có tài khoản tại ngân hàng.Việc sử dụng các công cụ thanh toán lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tiền tệ, giúp ngân hàng trung ương thực hiện tốt chính sách tiền tệ, ổn định giá cả thị trường,kiềm chế phạm phát, tạo công ăn việc làm... Thanh toán qua ngân hàng tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, trên cơ sở đó thực hiện cho vay thoã mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế, đầu tư vào nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội... Hoạt động thanh toán của ngân hàng tốt đẹp , hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất ,kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng; ngược lại, tổ chức thanh toán ách tắc, yếu kém thì sẽ trực tiếp làm ách tắc quá trình chu chuyển vốn, hàng hoá trong nền kinh tế, gây ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, suy thoái nền kinh tế. 3. Các phương thức thanh toán: 3.1. Thanh toán bằng séc. Đây là hình thức thanh toán ra đời rất sớm, được sử dụng ở nhiều nước và trên phạm vi toàn thế giới. Là hình thức than toán dựa trên cơ sở chứng từ là séc. Séc là lệnh chi tiền của người phát hành séc lập trên mẫu in sẵn của ngân hàng, ra lệnh cho ngân hàng trích tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc, hoặc người cầm séc. Séc bao gồm nhiều hình thức: Gồm rất nhiều hình thức ,nhưng tại việt nam hiện nay chỉ phổ biến séc chuyển khoản ,séc bảo chi và séc cá nhân . -Séc chuyển khoản: là séc để thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng, nó được phát hành trực tiếp trên số dư tài khoản tiền gửi không kì hạn và không được ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả. Séc chuyển khoản thể dùng thanh toán giữa hai đơn vị kinh tế hoặc một bên là đơn vị kinh tế một bên là cơ quan đoàn thể xã hội ,dân cư có tài khoản trong cùng một ngân hàng hoặc hai ngân hàng khác nhau nhưng có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp. Thời www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 4
Trang 5
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang gian có hiệu lực của séc chuyển khoản là 15 ngày kể từ ngày phát hành.nguyên tắc hạch toán séc chuyển khoản là ghi nợ trước ,ghi có sau . Việc thanh toán bằng séc chuyển khoản được thực hiền nhanh chóng, thuận tiện nếu các khách hàng cùng một hệ thông ngân hàng, hoặc giữa hai ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ, séc chuyển khoản bị giới hạn trong phạm vi hẹp vì thanh toán liên ngân hàng và bù trừ tại việt nam chưa phát triển . Séc không được phép lấy tiền mặt khi tờ séc đã bị gạch hai đường song song chéo góc ở phía trên bên tráihoặc đã được ghi từ chuyển khoản ở mặt sau tờ séc. -Séc bảo chi: Tờ séc chuyển khoản được ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành đảm bảo khả năng chi trả bằng cách lưu ký số tiền thanh toán ghi trên tờ séc đó vào một tài khoản riêng trước khi tờ séc giao cho người thụ hưởng ,chính vì vậy khả năng thanh toán của séc bảo chi rất cao, rủi ro rất thấp. Ngân hàng xác nhận dấu hiệu bảo chi của mình bằng cách đóng dấu bảo chi vào mặt trước của tờ séc. Séc bảo chi dùng trong thanh toán giữa những khách hàng có tài khoản tại một chi nhánh, khác chi nhánh nhưng cùng trong một hệ thống ngân hàng hoặc có tham gia thanh toán bù trên địa bàn tỉnh thanh phố.Thời gian hiệu lực của tờ séc bảo chi là 15 ngày làm việc kể từ ngày ngân hàng bảo chi séc. Trong trường hợp người phát hành séc làm mất séc phải thông báo ngay cho ngân hàng. thông báo này được coi là lệnh đình chỉ thanh toán séc. -Séc định mức: Sổ séc định mức lá sổ bao gồm nhiều tờ séc được với số tiền thanh toán được xác định trước, đồng thời người phát hành séc cũng chỉ đựơc phép phát hành séc trong phạm vi số tiền đó ngân hàng bảo đảm khả năng chi trả bằng cách bảo chi cho cả quyển séc. -Séc chuyển tiền: Là loại séc do ngân hàng phát hành để chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng, loại này có thể rút tiền mặt, chuyển tiền đi nơi khác hoặc bảo chi séc. séc chuyển tiền luôn đứng tên cá nhân. -Séc cá nhân: Thi hành quyết định QĐ22/QĐ-NH ngày 12/2/1994 của thống đốc ngân hàng nhà nước việt nam , kể từ ngày 24/11/1994 trên địa bàn thanh phố hà nội bắt đầu mở tài khoản tiền giửi cho phép phát hành séc cá nhân để thanh toán tiền háng hoá,dịch vụ và các khoản thanh toán khác được phát hành trên số dư tài khoản cá nhân của khách hàng. 3.2.Thanh toán bằng UNC. Thanh toán bằng UNC là quá trình thanh toán trên cơ sở giấy UNT là nhân tố trung tâm. UNC là lệnh chi tiền của người trả tiền được lập trên mẫu in sẵn thống nhất của ngân hàng ,yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình trả cho người thụ hưởng có tài khoản tiền gửi trong cùng một ngân hàng hoặc khác ngân hàng. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 5
Trang 6
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang UNC được dùng phổ biến trong các quan hệ thanh toán hàng hoá hoặc phi hàng hoá với hình thức này người trả tiền chủ động lập chứng từ để thanh toán cho người thụ hưởng qua ngân hàng. Trong quan hệ mua bán hàng người mua hàng hoá có thể dùng UNC để ứng trước tiền hàng cho người bán để thanh toán ngay sau khi nhận được hàng hoá hoặc sau một thời gian nào đó vì vậy điều kiện để thanh toán là người bán tín nhiệm người mua về phương diện thanh toán. không những thế UNC còn được dùng để chuyển tiền. 3.3. Thanh toàn bằng UNT. Là hình thức thanh toán dựa trên chứng từ là UNT do người bán phát hành và nộp vào ngân hàng để đòi nợ bên mua về những hàng hoá đã giao hoặc những dịch vụ đã cung cấp theo hợp đồng. UNT là lệnh đòi tiền được lập trên mẫu in sẵn thống nhất của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng hoá , dịch vụ đã cung cấp cho người mua. hình thức thanh toán này cũng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa hai bên mua và bán. khi nhận được giấy UNT , ngân hàng bên mua phải trích tài khoản của bên mua để thanh toán trong một ngày làm việc, nếu tài khoản bên mua không đủ tiền để trả thì bên mua sẽ phải chịu một khoản tiền phạt. 3.4 . Thanh toàn bằng thư tín dụng. Thư tín dụng là : “là một thỏa thuận trong đó một ngân hàng( ngân hàng mở thư tín dụng:the issuing bank)theo yêu cầu củabên mua ( người xin mở thư tín dụng( the applicant for credit )Trong đó ngân hàng mở thư tín dụng cam kết trả tiền cho bên bán nếu bên bán thực hiện và đầy đủ những quy định trong thư tín dụng”. người mua muốn được ngân hàng mở thư tín dụng để đi mua hàng thì phải dùng tiền của mình hoặc đi vay ngân hàng,lưu ký riêng số tiền đó nhằm đảm bảo thanh toán cho thư tín dụng. Tại việt nam số tiền tối thiểu để mở thư tín dụng là 10 triệu đồng và không được tính lãi, thời gian hiệu lực thanh toán của thư tín dụng là 3 tháng kể từ ngày ngân hàng bên mua đồng ý mở thư tín dụng. Do đặc điểm an toàn và chính xác cao nên nó được dùng khá phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế song do hình thức này phức tạp nên nó ít được sử dụng trong thanh toán nội địa . 3.5.Thanh toán bằng thẻ Thẻ thanh toán hiểu một cách đơn giản nhất là một loại giấy tờ có giá đặc biệt được làm bằng chất dẻo tổng hợp, được nhà phát hành ấn định giá trị,dùng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ hay để rút tiền thông qua máy đọc thẻ .Thẻ ra đời lần đầu tiên vào năn 1949 do ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế mang tên "Diners Club" ban www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 6
Hiển thị 6 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!