Trang 1
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lời nói đầu Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển kinh tế của các quốc gia. Trên thế giới có nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển nhờ vào sự hoạt động có hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Ngược lại, năm 1997 các quốc gia ở Châu á, đặc biệt là Đông Nam á bị ảnh hưởng trầm trọng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế mà nguyên nhân chính do sự sụp đổ của hàng loạt hệ thống ngân hàng khu vực. Hệ thống ngân hàng là chiếc cầu nối cho sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế một cách an toàn. Vì vậy, việc duy trì sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Nhưng trên thực tế hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh yếu, nhiều vấn đề xảy ra, trong đó phải kể đến việc mất một số lượng vốn khổng lồ do không thu hồi được vốn cho vay lên đến hàng ngàn tỷ đồng ở nhiều Ngân hàng thương mại (NHTM). Bên cạnh đó ở các ngân hàng còn tình trạng ứ đọng vốn mà các doanh nghiệp lại thiếu vốn để sản xuất, nợ quá hạn còn ở mức cao, độ an toàn trong hoạt động ngân hàng còn thấp. Đã có rất nhiều kiến nghị, giải pháp được đưa ra nhưng tình trạng đó vẫn còn tồn tại. Đây là một vấn đề nan giải, đang làm đau đầu các cơ quan hữu quan. Muốn hoạt động của ngân hàng có hiệu quả cao thì trước hết ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn huy động được mà không để tồn đọng kéo dài. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải tìm kiếm được các dự án đầu tư (DAĐT) có tính khả thi và có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Vấn www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
Trang 2
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang đề đặt ra là phải xem xét một cách chính xác tính hiệu quả và khả năng trả nợ của khách hàng trước khi thực hiện bất kỳ một khoản cho vay nào. Muốn đạt được sự án toàn khi cho vay đối với các DAĐT thì trước hết các dự án phải được thẩm định một cách chính xác về tính khả thi và hiệu quả của dự án. Nhờ sự chính xác trong công tác thẩm định, ngân hàng sẽ tránh được trường hợp cho vay những dự án không hiệu quả dẫn đến mất vốn và bỏ qua những dự án có tính khả thi cao, có thể thu được lợi nhuận. Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, em đi sâu tìm hiểu công tác thẩm định tài chính DAĐT và quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam”. Với mong muốn nghiên cứu để thấy được khó khăn trong công tác thẩm định tài chính DAĐT tại Ngân hàng hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những mặt khó khăn và phát huy hơn nữa những mặt đã đạt được của Ngân hàng. Thẩm định tài chính DAĐT là một nội dung trong nhiều nội dung thẩm định dự án và là khâu quan trọng trong quá trình quyết định lựa chọn DAĐT. Đây là một đề tài rộng, có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu. Trên cơ sở hệ thống hóa các lý luận cơ bản liên quan đến thẩm định tài chính DAĐT, phân tích thực trạng công tác thẩm định tại Ngân hàng để đưa ra giải pháp, ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm ba chương: Chương I: Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chương II: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Việt nam. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
Trang 3
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngoại thương Việt nam. Do trình độ lý luận và nhận thức còn hạn chế, thời gian tìm hiểu thực tế và thực tập có hạn, vì vậy bài viết của em không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự đóng góp của thầy cô giáo; ban lãnh đạo và các cô chú, anh chị ở phòng Đầu tư dự án của Ngân hàng ngoại thương Việt nam để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin cảm ơn thầy giáo, thạc sỹ Đinh Ngọc Dinh - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, anh Lê Quang Vinh, anh Đàm Hải Giang và các cô chú, anh chị ở phòng Đầu tư dự án và các phòng ban khác của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Em xin chân thành cảm ơn! www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
Trang 4
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Chương 1 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại 1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại (NHTM) 1.1.1 Khái niệm NHTM: NHTM được coi là một trung gian tài chính quan trọng hàng đầu trong hệ thống tài chính, là một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những người thừa vốn tới những người thiếu vốn. Thông qua NHTM, vốn nhàn rỗi từ những người không có khả năng đầu tư được chuyển tới những người có cơ hội đầu tư nhưng thiếu hoặc không có đủ lượng vốn cần thiết. Ngân hàng thương mại là tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo ra và cung cấp các dịch vụ tài chính. Thành công của NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng trong việc xác định các nhu cầu tài chính của xã hội. Các NHTM ngày nay cung cấp rất nhiều các loại hình dịch vụ tài chính khác nhau, bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ mang tính chất truyền thống (Dịch vụ trao đổi tiền tệ, cung cấp các dịch vụ ủy thác...), và các dịch vụ mới (Cho vay tiêu dùng, tư vấn tài chính, quản lý tiền mặt,...). Có thể xem xét sơ qua về một số hoạt động cơ bản của NHTM như sau: - Hoạt động huy động vốn: Để duy trì và phát triển, các NHTM thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân thông qua việc cung cấp các tài khoản séc, tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi thanh toán... - Hoạt động trung gian: Ngoài hai hoạt động trên, NHTM còn thực hiện các hoạt động trung gian ví dụ thực hiện chức năng trung gian thanh toán, chuyển tiền, tư vấn,... và tiến hành thu phí. Đây là hoạt động mang lại ít rủi ro hơn so với hoạt động tín dụng, các NHTM đều cố gắng nỗ lực để nâng cao tỷ lệ thu nhập của hoạt động trung gian trong tổng thu nhập của ngân hàng. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 4
Trang 5
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang - Hoạt động cho vay và đầu tư: là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu. Thông qua hoạt động này ngân hàng có thể bù đắp được các chi phí cho việc huy động vốn. Trong đó, hoạt động cho vay chiếm vị trí quan trọng hơn cả, ngân hàng có khả năng đối diện với rủi ro mất khả năng thanh toán là rất lớn, quyết định sự tồn tại của một ngâng hàng. Do đó, có thể định nghĩa NHTM như sau: NHTM là một tổ chức kinh tế được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ và tín dụng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. 1.1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (Ngân hàng) cung cấp một khoản tiền cho người đi vay để sử dụng vào một mục đích và trong một thời gian nhất định theo thoả thuận dựa vào lới hứa thanh toán lại trong tương lai với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu nhập của NH. Khả năng cho vay đối với khách hàng chính là lý do cơ bản để NHTM được cơ quan quản lý cấp giấy phép hoạt động. Mọi người mong muốn các NHTM hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng thông qua việc cung cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu tài chính của xã hội với một mức lãi suất hợp lý. Rõ ràng, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản hàng đầu của NH. Ngày nay, do kinh tế phát triển dẫn tới nhu cầu về tín dụng của khách hàng rất đa dạng và phong phú. Đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, các NHTM đã cung cấp nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Tùy thuộc vào các căn cứ mà tín dụng có thể phân chia thành các loại khác nhau. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 5
Trang 6
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang - Căn cứ vào mục đích vay vốn có thể kể đến các khoản tín dụng như sau: Cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng và các khoản cho vay khác. - Căn cứ vào lãi suất, thì có các loại hình như sau: Cho vay với lãi suất thả nổi, cho vay với lãi suất cố định và cho vay với lãi suất ưu đãi. - Căn cứ vào tính chất bảo đảm, có các loại tín dụng sau: Cho vay có bảo đảm và cho vay không có bảo đảm. - Ngoài việc phân loại dựa trên các tiêu thức kể trên, còn có một tiêu thức rất quan trọng để phân loại và quản lý các khoản cho vay chính là phân loại dựa trên tiêu thức thời gian xin vay của khách hàng. Dựa vào tiêu thức này thì có thể kể đến hai loại hình tín dụng là tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn. Cho vay ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời gian từ một năm trở xuống. Cho vay trung và dài hạn: Là khoản cho vay với thời gian trên một năm, được tiến hành chủ yếu trên các dự án đầu tư, với thời gian thu hồi vốn chậm. Hoạt động cho vay mang lại cho ngân hàng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là cho vay trung và dài hạn theo dự án đầu tư. Để đảm bảo được tính an toàn của các khoản cho vay, ngân hàng phải xây dựng một quy trình thống nhất đối với hoạt động này. Quy trình hoạt động cho vay là tập hợp các nội dung, các bước kĩ thuật nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một khoản vay. Thông thường, quy trình bao gồm ba bước. - Kiểm tra hồ sơ xin vay, đồng thời thẩm định tính hiệu quả của dự án. - Thực hiện cho vay và kiểm tra việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không trong thời gian cho vay. - Thu hồi nợ khi kết thúc hợp đồng vay. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 6
Trang 7
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Các bước trong quy trình trên có mối liên hệ mật thiết với nhau và có tầm quan trọng nhất định ảnh hưởng tới chất lượng của các khoản vay. Một khoản vay có chật lượng và là khoản vay mà người xin vay trả cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn theo như cam kết, đây là mục tiêu theo đuổi của ngân hàng. Để đạt được mục tiêu đó, trong quá trình ra quyết định tài trợ ngân hàng phải xem xét một cách kĩ lưỡng mọi khía cạnh có liên quan đến dự án: thời gian cho vay, quản lý và sử dụng tiền vay,... Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có hiện tượng ngân hàng gặp phải những rủi ro khi cho vay tạo nên những khoản nợ xấu cho ngân hàng. Để tránh được vấn đề này đòi hỏi ngân hàng phải tiến hành khâu thẩm định dự án. 1.2. Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động tín dụng của NHTM 1.2.1. Dự án đầu tư “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian xác định đối với hoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển hoặc phục vụ đời sống”. Có nhiều cách để phân loại dự án đầu tư, thông dụng nhất các dự án đầu tư có thể được phân thành: Dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Dự án đầu tư mới: Là những dự án có mục tiêu tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới để đưa vào thị trường hay những dự án tạo ra các pháp nhân mới. Các dự án thuộc loại này phải được đầu tư toàn bộ nhà xưởng, máy móc, thiết bị... Dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh: Những dự án có mục đích tăng cường năng lực sản xuất, tăng quy mô sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến dây truyền máy móc từ đó tăng doanh thu của www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 7
Trang 8
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang doanh nghiệp. Hay cách khác, dự án mở rộng sản xuất là dự án được thực hiện trên cơ sở một dự án cũ đang hoạt động. Căn cứ vào mối quan hệ của các dự án, chúng có thể chia thành: Dự án đầu tư độc lập hoặc dự án đầu tư phụ thuộc và dự án loại trừ nhau. Ngoài ra, dự án đầu tư cũng được phân loại theo một số tiêu thức khác như quy mô của dự án (dự án có quy mô lớn, dự án có quy mô vừa, dự án có quy mô nhỏ), cấp quyết định (dự án thuộc nhóm A – do Thủ tướng quyết định, B và C – do thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp Tỉnh và Thành phố trực thuộc trung ương quyết định), phạm vi (dự án trong nước, dự án nước ngoài),... Trong trường hợp khan hiếm nguồn tài trợ, chủ đầu tư thường quan tâm tới tín dụng ngân hàng. Các khoản tín dụng cho dự án đầu tư chủ yếu là các khoản tín dụng trung và dài hạn. Việc cung cấp tín dụng cho các dự án với số vốn lớn mà thời gian cho vay lại tương đối dài, có những dự án kéo dài đến hàng chục năm. Chính vì vậy mà rủi ro không trả được nợ của khách hàng đối với ngân hàng là rất lớn. Để phần nào giảm bớt được những rủi ro tiềm ẩn có thể gặp phải, trước khi tiến hành cấp tín dụng cho dự án ngân hàng phải tiến hành một bước rất quan trọng đó là kiểm tra tính khả thi của dự án, xem xét các đặc điểm của dự án, các yếu tố thuộc về môi trường có thể ảnh hưởng tới dự án,... công việc đó chính là công tác thẩm định dự án đầu tư. 1.2.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Trong hoạt động kinh doanh của mình, doanh nghiệp thường đứng trước những tập hợp dự án đầu tư cần lựa chọn hoặc phải quyết định đầu tư vào một dự án nào đó. Việc thẩm định giúp cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn được phương án tối ưu và ra quyết định sáng suốt. Đối với ngân hàng cũng vậy, thẩm định dự án đầu tư là căn cứ giúp đưa ra các quyết định tài trợ đúng đắn. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 8
Trang 9
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Hoạt động thẩm định dự án đầu tư (kết quả của nó là Báo cáo thẩm định) là hoạt động rất quan trọng, nó là bộ phận không thể tách rời trong tổng thể hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng. Về mặt nghiệp vụ, hoạt động này giúp cho ngân hàng có thể đưa ra những đánh giá về tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án. - Tính hợp lý của dự án được biểu hiện một cách tổng hợp (biểu hiện trong tính hiệu quả và trong tính khả thi) và được biểu hiện trong từng nội dung và cách thức tính toán của dự án. - Tính hiệu quả của dự án được xem xét trên hai phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án. - Tính khả thi của dự án: Tức là khả năng thực hiện dự án, mục tiêu này được thể hiện khi dự án đi vào hoạt động có thực sự đem lại lợi ích cho chủ đầu tư. Đây là mục tiêu rất quan trọng của thẩm định dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi. Tất nhiên hiệu quả và hợp lý là hai điều kiện quan trọng để một dự án có tính khả thi, nhưng tính khả thi còn phải được xem xét với nội dung và phạm vi rộng hơn. Từ kết quả rút ra mới có cơ sở để xác định được hiệu quả của vốn đầu tư vào dự án, quan trọng nhất là khả năng hoàn trả nợ (cả gốc và lãi) của chủ đầu tư cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng có thể quyết định có nên tài trợ hay không, tài trợ theo hình thức nào, mức lãi suất bằng bao nhiêu, cách thức trả nợ gốc và lãi, các biện pháp đẩm bảo tiền vay. Không những thế dựa vào báo cáo thẩm định NHTM có thể đo lường được mức độ rủi ro tiềm ẩn của dự án, từ đó ngân hàng có thể đề ra được các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong trường hợp tài trợ. Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại thụ nhập chủ yếu. Nhưng, hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng trung, dài hạn nói riêng mang rất nhiều rủi ro. Khi quyết định tài trợ cho một dự án thì có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận chia sự rủi ro với khách hàng của mình. Do vậy, nó có ảnh www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 9
Hiển thị 9 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!