[Chuyên đề] Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

THThiNganHang
0 lượt tải
101
0

Nội dung tài liệu

Trang 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lời nói đầu Nền kinh tế Việt Nam đang trên con đƣờng bƣớc vào thiên niên kỷ mới, con đƣờng đổi mới và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Sự hội nhập đó đã khép lại một thời kỳ kinh tế tự cung tự cấp, phát triển chạm chạp và lạc hậu. Nhìn lại những năm qua, tốc độ đầu tƣ trong nền kinh tế nƣớc ta có sự tăng trƣởng mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển cũng nhƣ cải thiện đời sống xã hội. Trong đó, không thể không kể đến vai trò của các NHTM với tƣ cách là nhà tài trợ lớn cho các dự án đầu tƣ, đặc biệt là dự án trung và dài hạn. Phải khẳng định rằng,để đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc nhằm tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nƣớc khác, trong khi xuất phát điểm của chúng ta lại thấp hơn họ nhiều, đòi hỏi chúng ta phải có sự ƣu tiên về đầu tƣ chiều sâu, đặc biệt cần bổ sung một lƣợng vốn đáng kể bao gồm vốn ngắn hạn và vốn trung dài hạn để đầu tƣ vào các dự án có khả năng tranh thủ “đi tắt, đón đầu”công nghệ. Trong khi đó, khả năng về vốn tự có của các doanh nghiệp rất hạn chế, việc huy động vốn của các doanh nghiệp qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu cũng rất khó khăn do thị trƣờng chứng khoán của nƣớc ta còn đang ở giai đoạn sơ khai, ngƣời dân còn chƣa quen thuộc và tin tƣởng vào loại hình đầu tƣ này. Do vậy để có thể đáp ứng nhu cầu về vốn trung dài hạn,các doanh nghiệp chủ yếu đi vay các tổ chức tài chính trung gian trong đó hệ thống NHTM là nguồn huy động và cung cấp vốn trung dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế. Với tƣ cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế, để phù hợp với xu hƣớng đa dạng hoá các hoạt động của Ngân hàng nhằm phục vụ bổ sung vốn lƣu động và vốn cố định cho doanh nghiệp, hệ thống NHTM Việt Nam cũng đã chủ trƣơng đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung dài hạn đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bên cạnh hoạt động ngắn hạn truyền thống. Tuy nhiên, cũng nhƣ mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng cũng chứa đầy rẫy những rủi ro. Do đặc thù kinh doanh tín dụng Ngân hàng là kinh doanh chủ yếu dựa vào tiền của ngƣời khác, kinh doanh qua tay ngƣời khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của chính bản thân Ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hậu quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống Ngân hàng gây ra những vụ hoảng loạn và sụp đổ của hàng loạt Ngân hàng cùng một loạt hậu quả nghiêm trọng khác về mọi mặt kinh tế, xã hội đặc biệt là lòng tin của ngƣời dân vào sự lãnh đạo của chính phủ bị suy giảm. Trong thời gian qua, những mất mát to lớn về tiền của tập trung qua công tác tín dụng đã là những www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Trang 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang hậu quả đáng quan tâm. Nhất là trong vài năm gần đây, số lƣợng dự án đầu tƣ trung – dài hạn trong nƣớc và nƣớc ngoài ngày càng gia tăng, mang lại một tỷ lệ lợi nhuận đáng kể trong tổng lợi nhuận của các Ngân hàng. Nhƣng bên cạnh đó cũng không tránh khỏi một số vƣớng mắc sai sót trong quá trình thực hiện cho vay các dự án đặc biệt là các dự án đầu tƣ trung – dài hạn. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao hạn chế đƣợc rủi ro cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng trong điều kiện để tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc thì việc gia tăng số lƣợng các dự án đầu tƣ là điều tất yếu. Muốn vậy thì những dự án này phải đảm bảo chất lƣợng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tƣ, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án. Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định tín dụng dự án đầu tƣ, đặc biệt là thẩm định tài chính dự án đầu tƣ là không thể phủ nhận đƣợc. Hơn nữa, một yêu cầu có tính nguyên tắc đối với Ngân hàng trong hoạt động đầu tƣ tín dụng là phải xem xét, lựa chọn những dự án đầu tƣ thực sự có hiệu quả vừa mang lại lợi ích cho nền kinh tế, vừa phải đảm bảo lợi nhuận Ngân hàng, đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ. Công tác thẩm định dự án đầu tƣ là công cụ đắc lực giúp các Ngân hàng thực hiện yêu cầu này. Với ý nghĩa đó việc thẩm định dự án đầu tƣ góp phần cực kỳ quan trọng đối với sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vì tính cấp bách, tầm quan trọng của công tác này đã tạo cho em một niềm say mê hứng thú đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu. Đồng thời, có sự tận tình hƣớng dẫn và những ý kiến đóng góp quý báu của cô giáo T.S Nguyễn Thu Thảo cùng sự giúp đỡ, chỉ đạo trực tiếp của cô Nguyễn Mai Lan – cán bộ phòng tín dụng thƣơng nghiệp đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Đống Đa”. Đề tài đƣợc nghiên cứu và hoàn thiện ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo gồm những nội dung sau: Chương I:Thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM. Chương II:Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Đống Đa. Chương III:Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Đống Đa. Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức thực tế chƣa nhiều, trình độ lý luận và năng lực bản thân còn hạn chế, luận văn tốt nghiệp này không tránh khỏi những www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Trang 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang thiếu sót, em rất mong đƣợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn để bài viết của em đạt kết quả tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Trang 4

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang CHƢƠNG I THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1.Hoạt động cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại 1.1.1.Tổng quan về Ngân Hàng Thương Mại. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM đƣợc coi nhƣ là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã nhƣ một bƣớc ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài ngƣời, đƣợc ví nhƣ “sự phát minh ra lửa”hay “sự phát minh ra bánh xe ”… Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những ngƣời thiếu vốn và có những ngƣời thừa vốn, những ngƣời có cơ hội đầu tƣ sinh lời nhƣng không có tiền và những ngƣời có tiền nhƣng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng nhƣ tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối đƣợc sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những ngƣời tiết kiệm và ngƣời đầu tƣ), đƣa đồng vốn tƣ nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm đƣợc chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm nhƣ vậy các NHTM đã góp phần nâng cao đƣợc năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi ngƣời trong xã hội. Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tƣ thông qua hai con đƣờng: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính).Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất. Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trƣờng tài chính qua sơ đồ sau: www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 4

Trang 5

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Các trung gian tà i Vốn chính. NHTM, Công ty tà i chính, bảo hiểm Người cho vay Người cho vay -Hộ gia đình -Hộ gia đình -Hãng kinh doanh Vốn -Hãng kinh doanh -Chính phủ -Chính phủ -Người nước -Người nước ngoà i Các thị trường ngoà i tà i chính Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ đƣợc vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng nhƣ những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chƣa phát triển nhƣ Việt Nam. Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trƣng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống nhƣ các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại ở lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác.Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán. NHTM thể hiện đƣợc vai trò của mình thông qua các hoạt động cơ bản sau đây: Huy động và sử dụng vốn. Trung gian thanh toán. Cung cấp các dịch vụ khác. *Huy động và sử dụng vốn. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 5

Trang 6

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thƣờng chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng đƣợc hình thành từ vốn ngân sách nhà nƣớc cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế nhƣ nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ. Đồng thời trong những trƣờng hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tƣ hay cho vay Ngân hàng trung ƣơng, các Ngân hàng tổ chức tín dụng khác. Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ đƣợc bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức: *Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ƣơng, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ƣơng, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thƣờng không sinh lời. *Hoạt động tín dụng: có thể nói là hoạt động quan trọng nhất mang lại nguồn thu nhập chủ yếu và quyết định về sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. *Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trƣờng tài chính. Đồng thời, Ngân hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hƣởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận. *Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng nhƣ ngoài nƣớc, NHTM thực hiện thanh toán qua: hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng. *Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình nhƣ: tƣ vấn đầu tƣ bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng đƣợc lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trƣờng. Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cƣờng cho vay đầu tƣ khi huy động đƣợc www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 6

Trang 7

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tƣ của Ngân hàng thƣờng sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này nhƣ thanh toán chuyển tiền. Ngƣợc lại, chất lƣợng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trƣờng cho vay, đầu tƣ … Nhận thức rõ điều đó, các NHTM ngày nay có xu hƣớng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng nhƣ lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có ngƣời nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hƣớng hiện nay, các Ngân hàng tăng cƣờng tài trợ cho nhu cầu đầu tƣ trung và dài hạn dƣới hình thức cho vay theo dự án. 1.1.2.Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương mại Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xƣởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần đƣợc đáp ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lƣu động. Để đạt đƣợc một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thƣờng xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lƣợng vốn đầu tƣ cũng cần phải đƣợc tăng lên gấp bội. Khái niệm về vốn cần phải đƣợc hiểu không chỉ là vốn tiền tệ mà còn biểu là linh hoạt nhất. Xét theo quy mô vốn thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhƣ: vật tƣ kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tƣ đƣợc mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tƣợng đầu tƣ. Xét theo đối tƣợng đầu tƣ, nguồn vốn đầu tƣ cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lƣu động (gọi là vốn lƣu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trƣởng đều phải đầu tƣ cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nƣớc phát triển chủ yếu đầu tƣ theo chiều sâu, hƣớng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nƣớc đang phát triển đầu tƣ phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nƣớc đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chƣa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn đƣợc sử dụng vaò các mục đích đầu tƣ đổi mới các tài sản cố định. Là một nƣớc đang phát triển,Việt www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 7

Trang 8

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tƣ vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nƣớc nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đƣờng tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nƣớc đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá là phải tạo ra cho đƣợc những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu đƣợc để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá. Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt đƣợc trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trƣởng kinh tế cao và tránh cho đất nƣớc rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nƣớc trong khu vực thì một trong những vấn đề đang đƣợc quan tâm là nguồn vốn đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội. Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/ngƣời vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/ngƣời. Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nƣớc thì để đạt đƣợc mục tiêu trên, nƣớc ta phảỉ huy động đƣợc từ 45-50 tỷ USD cho đầu tƣ trong đó vốn trong nƣớc phải đảm bảo từ 20 - 25 tỷ USD. Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tƣ cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nƣớc ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nƣớc và vốn nƣớc ngoài. Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nƣớc có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lƣợng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Nhƣ trên đã nói chúng ta có thể đầu tƣ bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn đầu tƣ từ hệ thống tín dụng Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nƣớc và vốn đầu tƣ từ các tổ chức www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 8

Trang 9

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp. Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lƣợng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lƣợng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trƣởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trƣơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trƣờng và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trƣờng, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chƣa đáp ứng đƣợc đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn. Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thƣờng xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phƣơng tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là ngƣời trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ƣu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh đƣợc các chi phí nhƣ phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán… Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tƣ xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lƣợng vốn rất lớn. Nhu cầu này đƣợc thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cƣ, vay nƣớc ngoài. Nhƣng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dƣới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trƣờng có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chƣơng trình đầu tƣ, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tƣ vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tƣ và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 9

Trang 10

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò nhƣ trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích nhƣ thế nào? Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại  Đối với các doanh nghiệp. Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng. Kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trƣờng và cũng là đặc trƣng của nền kinh tế thị trƣờng. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng muốn tồn tại và phát triển đƣợc thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh. Để cạnh tranh và giành đƣợc thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lƣợc kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xƣởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới đƣợc tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trƣờng vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trƣờng cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trƣờng chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trƣờng chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhƣng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nƣớc có thị trƣờng vốn và thị trƣờng chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nƣớc này, trong nhiều trƣờng hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hƣớng vay từ Ngân hàng, sở dĩ nhƣ vậy là vì lí do: Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm. Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không nhƣ dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thƣơng lƣợng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng đƣợc hƣởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chƣa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 10

Hiển thị 10 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!