Trang 1
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Mở đầu Rau quả là một loại thực phẩm phổ biến,cung cấp cho con người một lượng lớn chất dinh dưỡng.Ngoài việc sử dụng trực tiếp,rau quả tươi còn được chế biến thành nhiều dạng sản phẩm khác nhau như:mức,rau quả đóng hộp… Vì vậy việc kéo dài thời gian bảo quản rau quả tươi cho đến lúc chế biến rất quan trọng. Đến nay đã có rất nhiều phương pháp bảo quản rau quả tươi, tuy nhiên mỗi một phương pháp đều mang các ưu việt cũng như các hạn chế. Trong dân gian có một số biện pháp truyền thống vẫn thường được áp dụng để bảo quản rau quả như vùi củ, quả xuống cát ẩm để hạn chế sự mất nước hoặc quết vôi vào vết cắt ở cuống, gốc để tránh vi khuẩn xâm nhập vào rau, quả…Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ áp dụng được với một số ít loại củ quả, thời gian bảo quản cũng không được lâu. Nhiều loại củ, quả khi vùi xuống cát ẩm bị mọc mầm lại. Đặc biệt, bảo quản theo các cách truyền thống này không đảm bảo về hàm lượng dinh dưỡng cũng như màu sắc cảm quan của rau, củ, quả sau bảo quản. Bằng phương pháp sử dụng các hoá chất (nhúng, phun vào các sản phẩm rau quả) hay chiếu xạ, có khả năng hạn chế rất lớn sự hoạt động của vi sinh vật có hại.Tuy nhiên, ít nhiều có ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Do đó, đã có rất nhiều nước trên thế giới không chấp nhận sản phẩm nông sản sử dụng thuốc hoá học hoặc chiếu xạ. Cách bảo quản phổ biến nhất là bảo quản lạnh. Nhưng theo các chuyên gia dinh dưỡng, cách bảo quản này không tiết kiệm năng lượng lại đòi hỏi chi phí cao. Hiện nay,việc bảo quản rau quả bằng phương pháp màng đang được sử dụng rất phổ biến vì tính tiện lợi và đơn giản của nó.Trong bài tiểu luận này nhóm em xin trình bài khái quát về một số loại màng cũng như cách tạo ra và sử dụng chúng trong bảo quản rau quả.Bài báo cáo nào cũng vậy,không tránh khỏi sai sót nhóm em mong nhận được những đóng góp từ cô và các bạn để bài báo cao được hoàn thiện. Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ MÀNG BẢO QUẢN nhóm 17 Page 1
Trang 2
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh 1.1.Định nghĩa: Màng bảo quản rau quả tươi là vật liệu bao quanh rau quả sau thu hoạch nhằm ngăn cản sự tiếp xúc giữa rau quả và các vi sinh vật phá huỷ, khí oxy, hạn chế một phần độ ẩm. Từ đó rau quả sẽ không bị dập úng, không bị phá huỷ bởi vi sinh vật hay các tác nhân khác từ môi trường. 1.2.Mục đích và yêu cầu 1.2.1. Mục Đích • Kìm hãm quá trình hô hấp • Ngăn ngừa sự xâm nhập của dịch hại • Làm giảm quá trình thoát hơi nước trên bề mặt rau quả 1.2.2. Yêu cầu • Không độc, không mùi vị . • Điều khiển được tính thấm khí và khả năng ngăn ngừa sự thoát ẩm của rau quả đối với môi trường xung quanh. • Có tính đàn hồi, khó bị xé rách 1.3.Các yếu ảnh hưởng tới việc lựa chọn màng 1.3.1. Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố của môi trừơng có ảnh hưởng quyết định nhất đến chất lượng và thời gian bảo quả rau quả. Khi nhiệt độ tăng làm gia tăng quá trình hô hấp và gia tăng sự mất nước làm cho rau quả nhanh hư hỏng. Khi nhiệt độ thấp dưới điểm đóng băng sẽ dẫn đến sự hủy hoại cấu trúc của tế bào. Sự tăng giảm nhiệt độ đột ngột làm thay đổi cường độ hô hấp đột ngột sẽ gây hiện tượng bệnh lý cho rau quả. Để kéo dài thời gian bảo quản cần chọn nhiệt độ thích hợp và duy trì ổn định ở nhiệt độ đó. 1.3.2. Độ ẩm của không khí: nhóm 17 Page 2
Trang 3
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Độ ẩm ảnh hưởng lớn đến sự bốc hơi nước của rau quả, độ ẩm thấp làm gia tăng sự bốc hơi nước và khi độ ẩm không khí cao sẽ làm cho rau quả dễ bị úng thối. Khi bảo quản nên duy trì độ ẩm tối ưu nhằm tránh sự hư hỏng. 1.3.3. Thành phần khí quyển: Thành phần khí quyển ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất. Khi gia tăng hàm lượng CO2 và giảm nồng độ khí O2 trong khí quyển có tác dụng hạn chế sự hô hấp của rau quả. 1.3.4. Ngoài ra có các yếu tố khác như: • Đặc điểm của rau quả. • Thể tích rau quả chiếm chỗ trong môi trường bảo quản. • Độ chín,độ gìa của rau quả. Chương 2 Màng polyme sinh học nhóm 17 Page 3
Trang 4
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh 2.1.Phân loại Trên cơ sở phương pháp sản xuất, các vật liệu polyme sinh học được chia thành ba nhóm chính sau: • Polyme được tách trực tiếp từ các nguồn tự nhiên chủ yếu là thực vật ví dụ như các polysaccarit tinh bột, cellulose và protein như casein, gluten của bột mì. • Polyme được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp hóa học từ monome. Ví dụ, vật liệu polylactat là một polyeste sinh học được polyme hóa từ monome axit lactic. Các monome này được sản xuất nhờ phương pháp lên men các cacbon hyđrat tự nhiên. • Polyme được sản xuất nhờ vi sinh vật hoặc vi khuẩn cấy truyền gen. Vật liệu polyme sinh học điển hình nhất trong trường hợp này là polyhyđroxy - alkanoat; chủ yếu là polyhyđroxybutyrat (HB) và copolyme của HB và hyđroxy- valerat (tên thương mại là biopol). Cả ba loại polyme sinh học nói trên đều có tiềm năng làm nguồn vật liệu cho bao bì trong tương lai gần và sẽ thay thế các loại bao bì vật liệu polyme hiện tại có nguồn gốc dầu mỏ (như PE, PS). Nói chung các polyme sinh học nói trên đều có hiệu quả cao và dễ chế biến thành màng mỏng bằng công nghệ gia công chất dẻo thông thường còn đối với polyme đi từ polysaccarit và protein, vấn đề hiệu quả càng rõ ràng hơn, đặc biệt là cellulose, nguồn polyme tự nhiên rất sẵn có và rẻ. Các loại giấy bóng kính (celophan) khá bền, nhạy cảm với độ ẩm được sản xuất từ cellulose là một loại vật liệu rất thích hợp làm bao bì. Để khắc phục tính nhạy cảm với độ ẩm của giấy bóng kính, người ta thường phủ thêm bằng sáp nitrocellulose (NC - W) hoặc polyvinyliđen clorua (PVDC). Một số dẫn xuất của xenluloza hiện cũng sẵn có trên thị trường là xenluloza axetat, etylcellulose, hyđroxy - etyl cellulose và hyđroxy - propyl cellulose và cellulose điaxetat. Tinh bột cũng là một dạng polysaccarit được sử dụng rộng rãi, có cấu trúc dạng hạt và là thành phần chính của ngũ cốc, khoai tây. Tinh bột chủ yếu là hỗn hợp của nhóm 17 Page 4
Trang 5
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh amyloza (một polyme mạch thẳng) và amylopectin (một polyme phân nhánh). Ngoài vai trò làm thực phẩm, chất kết dính, chất làm đặc v.v.... Gần đây tinh bôt đã được chú ý trong vai trò làm vật liệu bao bì. Chúng có khả năng phân hủy sinh học cao, đồng thời lại có giá rẻ. Tuy tính bền cơ kém hơn nhưng màng tinh bột cũng có đặc điểm ngăn khí tốt, có tính nhiệt dẻo. Trong thực tế, người ta có thể bổ sung lượng lớn polyme tổng hợp như PVA hoặc polycaprolactam vào tinh bột để tạo ra loại màng có độ trong phù hợp. Vật liệu này có tính chất phân hủy sinh học khác hẳn loại màng tinh bột trộn PE trước đây (khi bị phân hủy vẫn để lại các hạt PE nhỏ). Tinh bột biến tính cũng là một dạng thay thế. Hiện nay trên thị trường đã có một số vật liệu từ tinh bột biến tính. Công nghệ chế biến tinh bột thành vật liệu bao bì thực phẩm sẽ thuận lợi hơn so với công nghệ đi từ cellulose, trong khi chi phí lại thấp hơn đồng thời lại là vật liệu dễ bị phân hủy sinh học. Gần đây protein cũng được coi là chất liệu tạo màng dễ phân hủy. Protein rất hấp dẫn các nhà hóa học polyme vì chúng có nhiều chức năng hóa học, sẵn có trong tự nhiên và khá phù hợp cho công nghệ tạo màng. Màng từ protein có tính chất ngăn khí cao và nhiều loại khá bền trong nước. 2.2.Màng chitosan Chitosan là một loại polyme sinh học, được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm vì có những tác động tốt trên bệnh nhân ung thư. Hai nước nghiên cứu nhiều về Chitosan hiện nay là Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam, Chitosan được sản xuất từ vỏ tôm đã được sử dụng thay hàn the trong sản xuất bánh cuốn, bánh su sê... Mới đây nhất, các nhà khoa học thuộc Đại học Nông Lâm TP HCM đã thành công trong việc tạo màng Chitosan làm vỏ bảo quản thực phẩm tươi sống, dễ hư hỏng như cá, thịt, rau quả... mà không làm mất màu, mùi vị của sản phẩm. 2.2.1. Nguồn gốc của chitosan: nhóm 17 Page 5
Trang 6
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Chitin là một trong những polyme có nhiều trong thiên nhiên, có nguồn gốc từ các loài động vật như tôm, cua. Chitin có thời gian phân hủy chậm, nên việc xử lý một lượng lớn chất thải trong công nghiệp chế biến hải sản gặp nhiều khó khăn. Tận dụng nguồn nguyên liệu chitin này, chúng ta tạo ra được chitosan có ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Chitosan là một dạng chitin đã bị khử axetyl, nhưng không giống chitin nó lại tan được trong dung dịch axit. Cấu trúc hóa học của chitin gần giống với xenluloza . Hình 2.1: Nguyên liệu sản xuất Chitin Hình 2.2: Công thức cấu tạo Chitin nhóm 17 Page 6
Trang 7
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Hình 2.3: Công thức cấu tạo xenluloza Hình 2.4: Công thức cấu tạo Chitosan Cả chitin và chitosan đều có nhiều ứng dụng trong công nghiệp và cuộc sống, đặc biệt là trong chế biến và bảo quản thực phẩm. Chitin có gốc từ chữ "chiton", tiếng Hy Lạp có nghĩa là vỏ giáp. Chitin là thành phần cấu trúc chính trong vỏ (bộ xương ngoài) của các động vật không xương sống trong đó có loài giáp xác (tôm, cua). Khi chế biến những loại hải sản giáp xác, lượng chất thải (chứa chitin) chiếm tới 50% khối lượng đầu vào và con số này tính trên toàn thế giới là 5,ll triệu tấn/năm. Vì vậy việc chế biến màng bảo quản chitosan đã giải quyết phần nào lượng chất thải trên, tương lai cho thấy tiềm năng phát triển của loại màng này là rất cao 2.2.2. Đặc tính của chitosan: • Là polysacharide có đạm không độc hại, có khối lượng phân tử lớn. • Là một chất rắn, xốp, nhẹ, hình vảy, có thể xay nhỏ theo các kích cỡ khác nhau. • Chitosan có màu trắng hay vàng nhạt, không mùi vị. nhóm 17 Page 7
Trang 8
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh • Không tan trong nước, dung dịch kiềm và axit đậm đặc nhưng tan trong axit loãng (pH6), tạo dung dịch keo trong, có khả năng tạo màng tốt, nhiệt độ nóng chảy 309- 311o C. 2.2.3. Tác dụng của chitosan: • Phân huỷ sinh học dễ hơn chitin. • Chitosan và các dẫn xuất của chúng đều có tính kháng khuẩn, như ức chế hoạt động của một số loại vi khuẩn như E.Coli, diệt được một số loại nấm hại dâu tây, cà rốt, đậu và có tác dụng tốt trong bảo quản các loại rau quả có vỏ cứng bên ngoài. • Khi dùng màng chitosan, dễ dàng điều chỉnh độ ẩm, độ thoáng không khí cho thực phẩm (Nếu dùng bao gói bằng PE thì mức cung cấp oxy bị hạn chế, nước sẽ bị ngưng đọng tạo môi trường cho nấm mốc phát triển). • Màng chitosan cũng khá dai, khó xé rách, có độ bền tương đương với một số chất dẻo vẫn được dùng làm bao gói. • Màng chitosan làm chậm lại quá trình bị thâm của rau quả. Rau quả sau khi thu hoạch sẽ dần dần bị thâm, làm giảm chất lượng và giá trị. Rau quả bị thâm là do quá trình lên men tạo ra các sản phẩm polyme hóa của oquinon. Nhờ bao gói bằng màng chitosan mà ức chế được hoạt tính oxy hóa của các polyphenol,làm thành phần của anthocyamin, flavonoid và tổng lượng các hợp chất phenol ít biến đổi, giữ cho rau quả tươi lâu hơn. 2.2.4. Cách tạo màng bọc chitosan: • Chitosan được nghiền nhỏ bằng máy để gia tăng bề mặt tiếp xúc. • Pha dung dịch chitosan 3% trong dung dịch axit axetic 1,5%. • Sau đó bổ sung chất phụ gia PEG - EG 10% (tỷ lệ 1:1) vào và trộn đều, để yên một lúc để loại bọt khí. • Sau đó đem hỗn hợp thu được quét đều lên một ống inox đã được nung nóng ở nhiệt độ 64-65 oC (ống inox được nâng nhiệt bằng hơi nước). • Để khô màng trong vòng 35 phút rồi tách màng. nhóm 17 Page 8
Trang 9
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh • Lúc này người ta thu được một vỏ bóng có mầu vàng ngà, không mùi vị, đó là lớp màng chitosan có những tính năng mới ưu việt. Hình 2.5: Màng Chitosan 2.2.5. Ứng dụng của chitosan: • Trong thực tế người ta đã dùng màng chitosan để đựng và bảo quản các loại rau quả như đào, dưa chuột, đậu, quả kiwi v.v... • Ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: y học, xử lý nước thải, công nghiệp nhuộm, giấy, mỹ phẩm, thực phẩm... nhóm 17 Page 9
Trang 10
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Hình 2.6 Chuối mau bị mốc khi bảo Hình 2.7 Chuối tươi lâu nhờ sử quản bằng cách thông thường dụng chế phẩm sinh học chitosan để bảo quản 2.2.6. Ưu điểm của màng chitosan: • Dễ phân huỷ sinh học. • Vỏ tôm phế liệu là nguồn nguyên liệu tự nhiên rất dồi dào, rẻ tiền, có sẵn quanh năm, nên rất thuận tiện cho việc cung cấp chitin và chitosan. • Tận dụng phế thải trong chế biến thủy sản để bảo quản thực phẩm ở nước ta. • Thành công này còn góp phần rất lớn trong việc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do các chất thải từ vỏ tôm gây ra. 2.3.MÀNG TINH BỘT 2.3.1. Nguyên tắc: Giống như các chất cao phân tử khác, tinh bột có khả năng tạo màng tốt. Để tạo màng các phân tử tinh bột (Amiloza và Amilopectin) sẽ dàn phẳng ra, sắp xếp lại và tương tác trực tiếp với nhau bằng liên kết hydro và gián tiếp qua phân tử nước. Có thể thu được màng từ dung dịch phân tán trong nước. Màng thu được từ thể phân tán trong nước thường dễ dàng tan ra trong nước. 2.3.2. Phương pháp tạo màng: Cho tinh bột phân tán trong nước đến một nồng độ nhất định không quá đặc hoặc không quá loãng, hồ hoá sơ bộ để tạo ra một độ nhớt nhất định. Khuấy thật kỹ,rót dung dịch tinh bột thành lớp mỏng lên bề mặt kim loại phẳng và nhẵn được gia nhiệt thích hợp. Để màng khỏi bị dính lại sau khi khô, có thể phết một ít parafin để trơ hoá bề mặt kim loại. nhóm 17 Page 10
Trang 11
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Các giai đoạn hình thành màng : • Giai đoạn 1: Từ bề mặt nước bốc hơi, nồng độ tinh bột tăng lên, các hạt tinh bột dịch gần nhau, hướng từ biên vào tâm dưới tác dụng của dòng môi trường phân tán sắp xếp lại thành lớp đơn hạt đặc. • Giai đoạn 2: Nước nằm giữa các hạt tiếp tục bốc hơi. Các hạt tiếp xúc nhiều hơn và bị biến dạng. Sức căng bề mặt lúc này có vai trò rất lớn, có khuynh hướng làm căng bề mặt của hệ thống. Mức độ biến dạng của các hạt phụ thuộc vào modun và độ nhớt của chúng. Có thể thêm vào các chất hoá dẻo để tạo màng có độ đồng thể hơn. • Giai đoạn 3: Khi tiếp xúc với nhau các hạt bắt đầu thể hiện lực cố kết. Các tính chất cơ lý của màng sẽ phụ thuộc vào các hiện tượng xảy ra trong giai đoạn này. Khi khô thể tích của màng bị giảm, dẫn đến sự co ngót về chiều dày và xuất hiện ứng suất nội. Sự co ngót màng càng lớn khi nồng độ tinh bột càng nhỏ và sự hydrat hoá càng cao. Do đó người ta thường thêm vào các chất pha loãng để làm giảm sự hydrat hoá. Màng thu được từ dung dịch có nồng độ thấp tốc độ bay hơi lớn, mạch phân tử tinh bột được định hướng một cách mạnh mẽ, thường có độ bền cao nhưng ứng suất nội lớn. Khi làm khô chậm, màng kém bền hơn tuy nhiên lại không có ứng suất nội. Vì vậy tốc độ bốc hơi nước phải được điếu chỉnh hợp lý bằng cách thay đổi nhiệt độ, thay đổi tốc độ chuyển dịch và trao đổi không khí, thay đổi độ nhớt và nồng độ tinh bột trong dung dịch. Khi thay đổi các thông số này ta sẽ thu được màng có cấu trúc và tính chất khác nhau. Qúa trình bốc hơi nước từ màng xảy ra theo 5 giai đoạn sau: • Giai đoạn 1: Nứơc nhiều nên sự bốc hơi nước xảy ra từ bề mặt tự do của chất lỏng. Áp suất hơi bão hoà là trở ngại duy nhất cho sự bốc hơi. • Giai đoạn 2: Trên bề mặt màng tạo ra lớp thể gel nhớt , nước phải thắng trở lực của lớp này. • Giai đoạn 3: Hình thành cấu trúc. nhóm 17 Page 11
Trang 12
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh • Giai đoạn 4: Bốc hơi của nước sonvat hoá là nước liên kết vững hơn với tinh bột. Ngoài ra nước phải thắng trở lực của lớp màng đã tạo thành. • Giai đoạn 5: Do kết quả của sự bốc hơi màng đã tạo ra. Để thu được màng tinh bột có tính chất đàn hồi cao ngưới ta có thể thêm các chất hoá dẻo để chúng làm tăng khoảng cách giữa các phân tử, làm giảm lực Van der Waals do đó làm yếu lực cố kết nước và làm tăng động năng của các phân tử. Chất hóa dẻo thường cùng bản chất hoá học nhưng có trọng lượng phân tử bé hơn. Vì vậy màng tinh bột thực phẩm người ta hay dùng glixerin làm chất hoá dẻo. Cũng có thể thu được màng tinh bột từ dung dịch tinh bột hoà tan trong kiềm sau đó tái sinh lại. Sơ đồ tạo màng Tinh bột Hồ hoá Nước Khuấy Rót dịch Màng Màng tinh bột trong suốt và đàn tính cao cũng có thể thu được bằng phương pháp nhúng. Chuẩn bị dung dịch tinh bột cũng giống như phương pháp tráng trên bản kim loại ở trên. Dung dịch tinh bột phải có độ nhớt thích hợp, để phủ kín đều bề mặt bản phim. Sau đó được gia nhiệt ở nhiệt độ thích hợp để làm chín tinh bột . Cũng cần lưu ý đôi khi màng thu được giòn,dễ bị rách là do khi tạo màng đã đồng thời xảy ra hai quá trình sau: nhóm 17 Page 12
Trang 13
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh • Sự giảm dần dần thể tích của chất tạo màng (tinh bột) do nước bị bốc hơi. • Sự hình thành dần dần và sự vững chắc hoá cấu trúc cục bộ dẫn tới làm mất độ chảy và làm xuất hiện một độ bền nào đó ở trong màng còn chưa được hoàn chỉnh. Ta đều biết bề mặt kim loại cũng như bề mặt bản phim là những bề măt rắn không có khả năng thay đổi kích thứơc chiều dài của mình, do đó trong màng sẽ phát sinh ra ứng suất nội. Nếu ứng suất này bé hơn độ bền của cấu trúc đã hình thành lúc đó, thì khi co ngót không làm rách màng. Nếu ứng suất này lớn hơn độ bền của cấu trúc màng lúc đó thì màng bị rách. Có thể khắc phục các hiện tượng trên bằng cách tăng nhiệt độ tạo màng lên một ít để tăng chuyển động nhiệt của các hạt tinh bột do đó sẽ phá vỡ cấu trúc mới tạo ra. Hoặc bằng cách tăng sự tạo cấu trúc để màng vừa tạo thành bền và đàn hồi để không bị đứt khi co ngót (thường thêm chất hoá dẻo). 2.4.MÀNG BACTERIAL CELLULOSE(BC): 2.4.1. Quá trình hình thành màng cellulose từ Acetobacter xylinum: Glu : glucose GHK : glucose hexokinase G6P : glucose 6 phosphat G1P : glucose 1 phosphat PGM : phosphoglucoemutase UGP : UDP glucose pyro-gluco 6 phosphat PGA : phosphogluconic acid PGI : phosphoglucose isomerase FHK : fructose hexokinas Frc : fructose F6P : fructose 6 phosphat 1PFK : fructose 1 phosphate kinas F1P : fructose 1 phosphate PTS : phosphotransfer system FDP : fructose 1,6 phosphate G6PD : glucose 6 phosphate dehydrogenase nhóm 17 Page 13
Trang 14
GVHD: Hoàng Thị Trúc Quỳnh Sơ đồ quá trình tổng hợp Cellulose của Acetobacter xylinum Trong môi trường nuôi cấy Acetobacter xylinum thì các sợi nhỏ phát triển càng dài. Các tế bào Acetobacter xylinum khi sống trong môi trường lỏng sẽ thực hiện quá trình trao đổi chất của mình bằng cách hấp thụ đường glucose, kết hợp đường với một acid béo để tạo thành tiền chất nằm ở màng tế bào. Tiền chất này tiết ra ngoài nhờ hệ thống lỗ nằm ở trên màng tế bào cùng với một enzyme có thể polyme hoá glucose thành cellulose. 2.4.2. Màng Bacterrial Cellulose (BC): Là lớp màng đặc do vi khuẩn Acetobacter xylinum tạo nên trên bề mặt môi trường có bản chất là hemicellulose. Hemicellulose là những polysaccarit không hoà tan vào nước nhưng hoà tan trong dung dịch kiềm tính. Acetobacter xylinum là vi khuẩn hiếu khí, gram âm, có dạng hình que, kích thước khoảng 2μm thay đổi tuỳ loài. Chúng có thể di động hoặc không di động, không sinh bào tử. Vi khuẩn Acetobacter xylinum cho phản ứng tacalase dương tính, có khả năng oxy hoá tiếp tục ethanol thành acid acetic, CO 2 và H 2 O. Ngoài ra, vi nhóm 17 Page 14 Powered by TCPDF (www.tcpdf.org)
Hiển thị 14 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!