Bảng cân đối tài sản: Thể hiện hoạt động đầu tư và Nguồn tài chính của công ty - Full Bright

THThiNganHang
0 lượt tải
35
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Kế toán tài chính – 1st ed. Niên khóa 2011-2013 Bài đọc Ch. 2: Bảng cân đối tài sản: Thể hiện hoạt động đầu tư và nguồn tài chính công ty Chương 2 BBẢẢNGNG CCÂÂNN ĐĐỐỐI TI TÀÀII SSẢẢN:N: TTHHỂỂ HIHIỆỆN HN HOOẠẠTT ĐĐỘỘNGNG ĐĐẦẦU TU TƯƯ VÀVÀ NNGGUUỒỒN TN TÀÀII CCHHÍÍNNHH CCỦỦA CA CÔÔNNGG TTYY Stickney & Weil, Kế toán Tài chính: Giới thiệu về khái niệm, phương pháp và công dụng, Nhà xuất bản Dryden, năm 1997. Bản dịch tiếng Việt do Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright thuộc Đại học Kinh tế TP.HCM biên soạn và thực hiện. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc dịch thuật. Trong trường hợp có khác biệt thì tài liệu nguyên gốc sẽ được sử dụng làm căn cứ. Mục tiêu học tập 1. Tìm hiểu các khái niệm kế toán về tài sản, nghĩa vụ nợ, và vốn cổ đông, bao gồm các điều kiện mà trong đó công ty công nhận các khoản mục này (vấn đề công nhận), các số liệu mà các công ty báo cáo về các khoản mục này (vấn đề đánh giá), và cách thức công ty cáo bạch các khoản mục này trên bảng cân đối tài sản (vấn đề phân loại). 2. Hiểu được phương pháp kế toán ghi sổ kép và học cách áp dụng vào các giao dịch, tiến đến kết quả sau cùng là bảng cân đối tài sản. 3. Xây dựng kỹ năng phân tích bảng cân đối tài sản, chú trọng vào mối quan hệ giữa tài sản, nghĩa vụ nợ, và vốn cổ đông mà người ta mong muốn để công ty lành mạnh về tài chính. Các bảng cân đối tài sản của nhiều hiệp hội cho vay và tiết kiệm (S&L) vào cuối thập kỷ 80 bao gồm cả những khoản cho vay với thời hạn đến 20 hay 30 năm. Vậy mà, phần lớn nguồn tài chính của các S&L chỉ là từ số dư trong các tài khoản tiết kiệm và chứng chỉ tiền gửi (cả hai đều là nghĩa vụ nợ của S&L), nguồn tiền mà khách hàng có thể rút ra ngay tức thời hoặc chỉ sau vài tháng. Sự mất cân đối về cơ cấu thời hạn của tài sản, thời hạn của nghĩa vụ nợ và vốn cổ đông có thể dẫn đến tình trạng khó khăn về tài chính hoặc thậm chí phá sản, như đã xảy ra với nhiều S&L. Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận những khái niệm quan trọng làm nền tảng cho bảng cân đối tài sản, minh họa tiến trình chuẩn bị một bảng cân đối tài sản, và giải thích các mối quan hệ mà người sử dụng bảng nên tìm kiếm khi phân tích bảng cân đối tài sản của các công ty lành mạnh trong nhiều ngành khác nhau. Chương này và cả quyển sách này đều nhìn từ góc độ của người sử dụng các báo cáo tài chính. Việc am hiểu các khái niệm cơ bản làm nền tảng cho bảng cân đối tài sản giúp người sử dụng phân tích và diễn giải các bảng cân đối tài sản được công bố. Việc tìm hiểu các phương pháp (hay các tiến trình) kế toán mà nhà kế toán tiến hành khi lập bảng cân đối tài sản giúp ta hiểu rõ các khái niệm hơn. Clyde Stickney, Roman Weil 1 Biên dịch: Kim Chi Hiệu đính: Bùi Văn

Trang 2

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Kế toán tài chính – 1st ed. Bài đọc Ch. 2: Bảng cân đối tài sản: Thể hiện hoạt động đầu tư và nguồn tài chính công ty CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN Chương 1 giới thiệu bảng cân đối tài sản, một trong ba báo cáo tài chính cơ bản. Thuật ngữ phổ biến tại một số nước gọi báo cáo tài chính này là báo cáo vị thế tài chính. Bảng cân đối tài sản tiêu biểu cho một bức ảnh chụp nhanh về các vụ đầu tư (các tài sản) của công ty và việc huy động vốn cho các vụ đầu tư này (nghĩa vụ nợ và vốn cổ đông) vào một thời điểm cụ thể. Bảng cân đối tài sản thể hiện sự cân bằng sau đây: Tài sản = Nghĩa vụ nợ + Vốn cổ đông Phương trình này nói lên rằng các tài sản của công ty cân bằng với các nguồn vốn huy động cho các tài sản đó từ những người cho vay và chủ sở hữu. Bảng cân đối tài sản trình bày các nguồn lực từ hai góc độ: một danh mục các hình thức cụ thể của những nguồn lực mà công ty đang nắm giữ (ví dụ, tiền mặt, hàng trong kho, máy móc thiết bị); và một danh mục những người cung ứng nguồn lực và do đó họ có quyền đối với các tài sản (ví dụ, các nhà cung ứng hàng, người lao động, chính phủ, các cổ đông). Các nhà kế toán thường gọi tổng các nghĩa vụ nợ và vốn cổ đông là tổng nguồn vốn. Việc giới thiệu bảng cân đối tài sản trong chương 1 còn để lại một số câu hỏi chưa được giải đáp: 1. Những nguồn lực nào được công ty công nhận là tài sản? 2. Công ty thực hiện việc đánh giá như thế nào đối với các tài sản này? 3. Công ty phân loại, hay xếp thành nhóm các tài sản này trên bảng cân đối tài sản như thế nào? 4. Các quyền nào đối với tài sản của công ty được thể hiện là các nghĩa vụ nợ trên bảng cân đối tài sản? 5. Công ty thực hiện việc đánh giá như thế nào đối với các nghĩa vụ nợ này? 6. Công ty phân loại các nghĩa vụ nợ như thế nào trong bảng cân đối tài sản? 7. Công ty thực hiện việc đánh giá như thế nào đối với vốn cổ đông, và công ty công bố vốn cổ đông như thế nào trên bảng cân đối tài sản? Để trả lời những câu hỏi này, ta phải xem xét một số khái niệm kế toán làm nền tảng cho bảng cân đối tài sản. Phần thảo luận này không chỉ mang đến cơ sở để tìm hiểu các bảng báo cáo như hiện đang được trình bày mà còn cho phép người đọc đánh giá các phương pháp khác nhau để xác định vị thế tài chính. CÔNG NHẬN CÁC TÀI SẢN Tài sản là một nguồn lực có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế cho công ty trong tương lai – khả năng tạo ra một dòng ngân lưu vào trong tương lai hay làm giảm dòng ngân lưu ra trong tương lai. Công ty sẽ công nhận một nguồn lực nào đó là một tài sản chỉ khi (1) công ty có quyền sử dụng nguồn lực đó trong tương lai như kết quả của một giao dịch hay trao đổi trong quá khứ, và (2) công ty có thể đo lường hay định lượng được lợi ích tương lai với một độ chính xác hợp lý. Mọi tài sản đều là lợi ích tương lai; nhưng không phải mọi lợi ích tương lai đều là tài sản. Ví dụ 1. Công ty Miller bán hàng và nhận một giấy hẹn trả tiền từ khách hàng, thỏa thuận trả 2000 trong vòng 4 tháng. Giấy hẹn trả tiền, hay chứng từ nợ phải thu này là một tài sản của công ty Miller vì công ty có quyền nhận được một số tiền mặt nhất định trong tương lai như kết quả của việc bán hàng trước đó. Ví dụ 2. Công ty Miller mua máy móc thiết bị sản xuất trị giá 40.000 và thỏa thuận trả tiền cho người bán trong vòng ba năm. Sau đợt trả tiền cuối cùng, và mãi đến lúc đó, quyền hợp pháp về Clyde Stickney, Roman Weil 2 Biên dịch: Kim Chi Hiệu đính: Bùi Văn

Trang 3

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Kế toán tài chính – 1st ed. Bài đọc Ch. 2: Bảng cân đối tài sản: Thể hiện hoạt động đầu tư và nguồn tài chính công ty thiết bị mới được chuyển giao cho công ty Miller. Cho dù công ty Miller không được sở hữu quyền hợp pháp về thiết bị trong 3 năm, nhưng thiết bị này là tài sản của công ty vì công ty có các quyền và trách nhiệm về sở hữu và có thể duy trì các quyền này bao lâu mà công ty vẫn đang thanh toán theo định kỳ. Ví dụ 3. Công ty Miller đã xây dựng được uy tín với người lao động, khách hàng và các cư dân trong cộng đồng. Ban giám đốc kỳ vọng rằng tiếng tăm này sẽ mang lại lợi ích cho công ty trong các hoạt động kinh doanh tương lai. Tuy nhiên, tên tuổi hay tiếng tăm của một công ty nói chung không phải là một tài sản tài chính. Cho dù công ty Miller đã tốn nhiều chi phí trong quá khứ để xây dựng tên tuổi của mình, nhưng thật khó mà định lượng được lợi ích tương lai với một độ chính xác đủ để cho phép công ty Miller công nhận tên tuổi đó là một tài sản. Ví dụ 4. Công ty Miller lên kế hoạch mua một đội xe tải mới trong năm tới để thay thế cho đội xe cũ đã hao mòn. Những chiếc xe tải mới này hiện nay không phải là tài sản vì công ty Miller chưa thực hiện việc mua bán với nhà cung ứng, và do đó chưa thiết lập được quyền sử dụng xe tải trong tương lai. Phần lớn những khó khăn mà các nhà kế toán gặp phải khi quyết định công nhận khoản mục nào là tài sản liên quan đến các hợp đồng không được thực hiện hay chỉ thực hiện một phần. Trong ví dụ 4, giả sử công ty Miller ký hợp đồng với một nhà buôn xe tải để mua xe tải trong năm tới với mức giá tiền mặt là 60.000. Công ty Miller đã có quyền đối với lợi ích tương lai, nhưng hợp đồng vẫn chưa được thực hiện. Việc hạch toán nói chung không thừa nhận những hợp đồng chưa được thực hiện, đôi khi được gọi là hợp đồng chưa thi hành. Công ty Miller sẽ công nhận các xe tải này là tài sản khi công ty nhận được xe vào năm tới. Để minh họa thêm một bước nữa, ta giả định rằng công ty Miller trả trước cho nhà buôn 15.000 trong tổng số tiền mua hàng vào thời điểm ký kết hợp đồng. Công ty Miller đã có được quyền đối với lợi ích tương lai và đã trao đổi tiền mặt. Thông lệ kế toán hiện hành sẽ xử lý khoản trả trước 15.000 để mua thiết bị này là một tài sản với tên gọi là khoản trả trước cho nhà cung ứng. Tuy nhiên, xe tải vẫn không phải là một tài sản trong thời điểm này, vì công ty Miller chưa nhận được đủ quyền tương lai để giải thích cho việc đưa xe tải vào bảng cân đối tài sản. Những vấn đề về việc công nhận tài sản tương tự cũng phát sinh khi một công ty thuê nhà xưởng và thiết bị để sử dụng riêng trong các hợp đồng cho thuê dài hạn hay khi công ty ký hợp đồng với một công ty vận tải để chuyên chở toàn bộ sản phẩm của công ty cho khách hàng trong thời gian vài năm. Trong chương sau, chúng ta sẽ thảo luận những vấn đề này đầy đủ hơn. ĐÁNH GIÁ TÀI SẢN Kế toán phải gán một giá trị bằng tiền cho mỗi tài sản trên bảng cân đối tài sản. Nhà kế toán có thể dùng một vài phương pháp để tính toán giá trị này. Chi phí mua hay chi phí lịch sử. Khoản thanh toán tiền mặt (hay giá trị tương đương bằng tiền mặt của các hình thức thanh toán khác) được thực hiện khi mua tài sản được gọi là chi phí mua hay chi phí lịch sử của tài sản. Nhà kế toán có thể xác định giá trị này bằng cách xem hợp đồng, hoá đơn, và các tấm séc đã thanh toán. Vì công ty không bị bắt buộc phải mua một tài sản nhất định nào đó, công ty phải kỳ vọng lợi ích tương lai từ tài sản mua về ít nhất cũng ngang với chi phí mua. Khi đó, chi phí lịch sử ấn định giới hạn dưới cho giá trị lợi ích tương lai của tài sản đối với công ty vào thời điểm mua tài sản. Clyde Stickney, Roman Weil 3 Biên dịch: Kim Chi Hiệu đính: Bùi Văn

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!