[Bài luận] Quyền dòng tiền, nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam

THThiNganHang
0 lượt tải
16
0

Đang tạo bản xem trước...

Nội dung tài liệu

Trang 1

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang QUYỀN DÒNG TIỀN VÀ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM TS. Lê Đạt Chí – Đại Học Kinh Tế Tp.HCM Th.sỹ Phan Thị Thanh Thủy – Ngân hàng OCB TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu hướng đến kiểm định tác động của quyền dòng tiền đến nợ xấu. Sử dụng phương pháp ước lượng DGMM với dữ liệu các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014, nghiên cứu đưa ra bằng chứng thực nghiệm nợ xấu của ngân hàng càng cao khi quyền dòng tiền của cổ đông kiểm soát càng nhỏ. Kết quả này ủng hộ quan điểm truyền thống của Berle và Means (1933), sở hữu phân tán dẫn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng kém. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với các chính sách giám sát hoạt động ngân hàng và lựa chọn cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại để đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành an toàn với mức độ rủi ro trong tầm kiểm soát. Từ khóa: nợ xấu, cấu trúc sở hữu, quyền kiểm soát, quyền dòng tiền CASH FLOW RIGHTS AND NON-PERFORMING LOANS IN VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS ABSTRACT The aim of this research is to investigate the impact of cash flow rights on non-performing loans (NPLs). Using the DGMM estimation with a panel data of Vietnamese joint-stock commercial banks over the 2007-2014 period, the study provides empirical evidence that low levels of cash flow rights of the ultimate owner are associated with high levels of non-performing loans. This finding supports the traditional view of Berle and Means (1933) that dispersed ownership reduces banks’ performance. The result offers significant implication in making oversight polices of banking activities and choosing ownership structure of commercial banks to ensure a safely operated banking system under which the level of credit risks is to be controlled. Keywords: Non-performing loans (NPLs), ownership structure, control rights, cash flow rights www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

Trang 2

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang 1. Giới thiệu Năm 2015 là năm cuối cùng của đề án tái cơ cấu các TCTD giai đoạn 2011-2015. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu được đặt ra là xử lý khối nợ xấu khổng lồ giúp lưu thông dòng chảy tín dụng, mở đường cho sự hồi phục và phát triển của kinh tế Việt Nam. Hơn lúc nào hết, nghiên cứu về nợ xấu tại thời điểm này có ý nghĩa thực tiễn và mang tính thời sự. Đề tài này tập trung nghiên cứu tác động của một số nhân tố bên ngoài và bên trong ngân hàng đối với nợ xấu, trong đó nhân tố trọng tâm là cấu trúc sở hữu, được đại diện bằng quyền dòng tiền của nhóm cổ đông kiểm soát ngân hàng. Quyền dòng tiền được sử dụng trong nghiên cứu này vì có ưu thế hơn so với quyền kiểm soát là bổ sung thông tin quyền lực và lợi ích tài chính của cổ đông kiểm soát. Kết quả nghiên cứu gợi mở các chính sách liên quan đến hoạt động giám sát ngân hàng và lựa chọn cấu trúc sở hữu để đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành an toàn. Nghiên cứu này bổ sung vào số ít các nghiên cứu định lượng về đề tài các nhân tố tác động đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Sử dụng phương pháp ước lượng DGMM, nghiên cứu khắc phục được các nhược điểm của dữ liệu để đưa ra bằng chứng thực nghiệm có độ tin cậy cao. Nghiên cứu cũng mở rộng định nghĩa về người liên quan và cách tính nợ xấu để thấy được bức tranh toàn cảnh về sở hữu và chất lượng tín dụng của các ngân hàng TMCP Việt Nam. 2. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu 2.1 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp xét trên khía cạnh mức độ tập trung quyền sở hữu được đại diện bằng quyền sở hữu, quyền kiểm soát hay quyền dòng tiền, mặc dù có sự khác biệt về định nghĩa, cách tính nhưng có mối liên quan với nhau. Quyền sở hữu liên quan đến nắm giữ cổ phần. Quyền kiểm soát là quyền biểu quyết các vấn đề có ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Quyền dòng tiền là quyền được hưởng cổ tức và các lợi ích tài chính khác. Cổ đông kiểm soát (chủ sở hữu sau cùng) là cổ đông có tổng quyền kiểm soát trực tiếp và gián tiếp lớn nhất. Nghiên cứu này sử dụng quyền dòng tiền của cổ đông kiểm soát để đại diện cho mức độ tập trung sở hữu vì quyền dòng tiền bổ sung thông tin quyền lực của cổ đông kiểm soát và lợi ích tài chính mà cổ đông kiểm soát nhận được dựa trên quyền dòng tiền (Leaven và Levine, 2009). Hơn nữa, cổ đông kiểm soát có thể có quyền dòng tiền không tương ứng với quyền kiểm soát thông qua cấu trúc sở hữu dạng tháp hoặc sở hữu chéo (La Porta và cộng sự, 2000). Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đặt nền tảng từ nghiên cứu của Berle và Means (1933). Sở hữu phân tán cổ phần của doanh nghiệp dẫn đến kết www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

Trang 3

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang quả kinh doanh kém bởi vì động cơ giám sát của chủ sở hữu đối với ban quản trị công ty yếu. Sự tách biệt về quyền sở hữu và quyền kiểm soát doanh nghiệp kết hợp với sự phân tán quyền sở hữu dẫn đến chủ thể quản lý, giám sát thường xuyên hoạt động của doanh nghiệp không phải là cổ đông mà là ban điều hành. Ban điều hành có thể thực hiện các quyết định tạo ra lợi ích cho mình nhưng không có hiệu quả đối với cổ đông. Tương tự, doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu phân tán có rủi ro cao bởi vì chủ sở hữu có danh mục đầu tư được đa dạng hóa (chủ sở hữu không tập trung phần lớn tài sản vào doanh nghiệp) có khẩu vị rủi ro cao (Jensen và Meckling, 1976; Galai và Masulis, 1976; Esty, 1998). Dựa trên những giả định của thị trường hiệu quả, Fama (1980) cho rằng sở hữu phân tán không ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Nghiên cứu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2013) lập luận rằng sở hữu chồng chéo gây ra nợ xấu của ngân hàng vì cấu trúc sở hữu chồng chéo tạo ra khe hở để các ngân hàng không tuân thủ nghiêm ngặt các giới hạn cấp tín dụng hoặc nới lỏng các các điều kiện cấp tín dụng cho những khách hàng mà cổ đông của ngân hàng có quan hệ sở hữu. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động của mức độ tập trung sở hữu đối với nợ xấu của ngân hàng không đồng nhất, mối tương quan có thể là đồng biến, nghịch biến hoặc không có ý nghĩa thống kê. Thứ nhất, mức độ tập trung sở hữu có tương quan âm với nợ xấu. Innotta và cộng sự (2007) sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 181 ngân hàng lớn của các quốc gia châu Âu trong giai đoạn 1999-2004, mức độ tập trung sở hữu càng cao có tương quan với chất lượng nợ càng tốt. Srairi và cộng sự (2013) cũng cho thấy mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ cổ phần của cổ đông lớn nhất và rủi ro đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, dữ liệu bao gồm 175 ngân hàng của các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi. Thứ hai, Louzis và cộng sự (2011) phát hiện mối tương quan cùng chiều giữa mức độ tập trung sở hữu và nợ xấu khi mức độ tập trung sở hữu được đại diện bằng các biến giả trên 25% hoặc trên 50% khi phân tích mẫu dữ liệu của các ngân hàng Hy Lạp. Cuối cùng, tác động của tỷ lệ sở hữu ở những mức khác nhau đến nợ xấu là khác nhau. Sử dụng mẫu nghiên cứu là các ngân hàng Đài Loan trong giai đoạn 1996-1999, Hu và cộng sự (2004) chỉ ra nợ xấu giảm khi tỷ lệ sở hữu cổ phần của chính phủ tăng (lên đến ngưỡng 63,51%) sau đó giảm xuống. Khi nghiên cứu với mẫu dữ liệu gồm 500 ngân hàng của 50 quốc gia, Shehzad và cộng sự (2010) tìm thấy mức độ tập trung sở hữu có tác động cùng chiều với nợ xấu khi cổ đông kiểm soát nắm giữ tỷ lệ trên 10% cổ phần, tác động trái chiều khi tỷ lệ nắm giữ trên 50% và không có ý nghĩa thống kê ở mức trên 20%. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

Hiển thị 3 trang đầu. Tải tài liệu để xem đầy đủ.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia bình luận

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!