[Tạp chí khoa học]_ Nhân giống loài râu hùm bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng

THThiNganHang
다운로드 0회
6
0

미리보기 생성 중...

자료 내용

1쪽

No.17_Aug 2020|Số 17 – Tháng 8 năm 2020|p.26-31 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO ISSN: 2354 - 1431 NHÂN GIỐNG LOÀI RÂU HÙM (TACCA CHANTRIERI ANDRE) BẰNG PHƢƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG SINH DƢỠNG Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO, TUYÊN QUANG Nguyễn Thị Hảia, Trần Thị Thanh Vâna, Chu Quỳnh Maia* a Trường Đại học Tân Trào * Thông tin bài viết Tóm tắt Ngày nhận bài: Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) là loài cây thuốc quý, có công dụng chữa 20/4/2020 bệnh thấp khớp, dùng uống trị viêm loét dạ dày và hành tá tràng, viêm gan, Ngày duyệt đăng: huyết áp cao, bỏng lửa, lở ngứa…[7,10]. Mặc dù chưa bị khai thác nhiều quá 12/8/2020 mức song nạn phá rừng và khai thác rừng đã trực tiếp làm thu hẹp diện phân bố và khả năng trữ lượng tự nhiên của cây. Việc nghiên cứu nhân giống loài Râu Từ khóa: Giâm hom, Râu hùm, Hom hùm nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc của tỉnh Tuyên Quang. Kết giống, IAA, IBA, α-NAA. quả nghiên cứu nhân giống Râu hùm bằng phương pháp sinh dưỡng cho thấy, hom giâm ở các vị trí hom khác nhau (hom ngọn, hom giữa và hom gốc) có kích thước 10cm cho tỷ lệ sống cao hơn, trong đó hom giữa (kích thước 10cm) sau 30 ngày, 60 ngày và 90 ngày đều cho kết quả cao nhất với các giá trị tương ứng về tỷ lệ hom sống (95,9%, 78,5% và 67,8%). Hom giữa (10cm) cho số chồi/hom cao nhất. Khi nhân giống Râu hùm bằng hom giữa (10cm) có sử dụng các chất kích thích sinh trưởng và nồng độ sử dụng các chất đó tới tỷ lệ sống và ra rễ cho thấy: sau 90 ngày, công thức cho tỷ lệ sống cao nhất là hom xử lý IAA với nồng độ 1500ppm đạt 100%, cao hơn nhiều so với đối chứng. Tiếp đến là IBA với tỷ lệ 98,5%, còn lại α-NAA có sự tác động lên hom giâm thấp nhất. Loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ sử dụng đã ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ ra rễ và số rễ trung bình/hom, khi nồng độ tăng từ 500ppm lên đến 1000ppm, đặc biệt lên đến 1500ppm thì tỷ lệ ra rễ và số rễ trung bình/hom có xu hướng tăng theo. Công thức 9 với chất kích thích IBA ở nồng độ 1500ppm cho tỷ lệ cao nhất. 1. MỞ ĐẦU Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) là loại cỏ nhiều Râu hùm là một trong những vị thuốc được dùng năm, thường gặp Râu hùm mọc ở ven suối, dưới tán nhiều trong y học cổ truyền, thân rễ dùng ngoài chữa rừng. Râu hùm phân bố nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên thấp khớp. Ở Trung Quốc, cây được dùng uống trị Bái, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, viêm loét dạ dày và hành tá tràng, viêm gan, huyết áp cao, đau dạ dày, bỏng lửa, lở ngứa [7,10]. Hà Nội (Ba Vì), Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ an, Quảng Trị, Quảng Nam, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Ở Na Hang (Tuyên Quang), Râu hùm được dân tộc Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai [7,10]. Tày gọi là: Bơ thác lủa; dân tộc Dao gọi là: Mào xam

2쪽

N.T.Hai et al/ No.17_Aug 2020|p.26-31 đòi. Dùng toàn cây làm thuốc. Dân tộc Tày dùng rễ Thí nghiệm gồm 10 công thức: phơi khô sắc nước uống chữa khớp; cả cây sắc uống + CT1: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng IAA chữa cao huyết áp; dân tộc Dao dùng rễ phơi khô đun nồng độ 500ppm nước uống chữa dạ dày, viêm phổi [7]. + CT2: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng IAA Mặc dù chưa bị khai thác nhiều quá mức, song nạn nồng độ 1.000ppm phá rừng và khai thác rừng đã trực tiếp làm thu hẹp + CT3: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng IAA diện phân bố và khả năng trữ lượng tự nhiên của cây. nồng độ 1.500ppm Việc nghiên cứu nhân giống nhằm bảo tồn và phát triển loài Râu hùm là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học + CT4: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng α- và giá trị thực tiễn. Bài báo này trình bày kết quả NAA nồng độ 500ppm nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng (bằng hom) của + CT5: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng α- Râu hùm được thực hiện tại trường Đại học Tân Trào, NAA nồng độ 1.000ppm tỉnh Tuyên Quang. + CT6: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng α- 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NAA nồng độ 1.500ppm 2.1. Vật liệu và địa điểm nghiên cứu + CT7: Xử lý các loại hom giống từ củ bằng IBA - Hom giống Râu hùm được lấy từ các cây phân bố nồng độ 500ppm tự nhiên tại khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Việc + CT8: Xử lý bằng các loại hom giống từ củ IBA nhân giống được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 10 nồng độ 1.000ppm năm 2019 tại trường Đại học Tân Trào. + CT 9: Xử lý bằng các loại hom giống từ củ IBA - Cát sạch, bình bơm thuốc sâu, giấy nilon trắng, nồng độ 1.500ppm dung dịchViben C 0,03%, chất điều hòa sinh trưởng + CT10: Không xử lý hoá chất (Đối chứng) (IAA, IBA và α-NAA). Đối với các công thức xử lý các hom giống bằng - Túi bầu polyetylen kích thước 8x12cm; hỗn hợp IAA, α-NAA và IBA, nhúng hom giâm vào dung dịch ruột bầu gồm 90% tầng đất mặt dưới tán rừng. 1 - 2cm, thời gian xử lý hom kéo dài 20 - 30 giây. Sau 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu đó nhấc hom lên để ngoài không khí cho khô ráo mặt Nhân giống sinh dưỡng được thực hiện bằng cách cắt trước khi ngâm, các thí nghiệm được lặp lại 3 lần. giâm hom cắt từ thân rễ (củ). Việc giâm hom được Sau khi giâm xong, hàng ngày tưới nước dạng phun thực hiện ngay sau khi thu từ cây mọc tự nhiên. Hom sương 2 lần (sáng và chiều). Mỗi công thức sử dụng giâm được cắt bỏ phần lá phía gốc, sau đó được xử lý 90 hom. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần (tại 3 vườn chống nấm, mốc; xử lý các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau). Thời gian ghi số liệu sau 30, 60 và 90 và đưa vào các luống giâm. ngày. Mỗi lần ghi số liệu nhấc 30 hom/công thức/lần Các thí nghiệm bao gồm: lặp để đo đếm các chỉ tiêu theo dõi. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của loại hom và kích 2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu thước hom đến tỷ lệ sống và tỷ lệ nảy chồi của hom Trong thời gian thí nghiệm các công thức giâm giống. Loại hom trong thí nghiệm này bao gồm: hom hom số liệu được theo dõi hàng ngày và đo đếm các ngọn, hom giữa (bánh tẻ) và hom gốc với các kích chỉ tiêu sau: Số hom sống, hom có chồi - số chồi; số thước 5cm, 10cm. hom ra rễ... Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của loại chất điều hòa Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các loại hom sinh trưởng và nồng độ sử dụng của các chất đó tới tỷ giống đến tỷ lệ sống, khả năng nảy chồi và ra rễ. lệ sống và ra rễ của hom giâm. Lựa chọn 3 loại hom từ củ: hom ngọn, hom giữa Các chất điều hoà sinh trưởng dùng trong các thí (bánh tẻ), hom già. nghiệm là: α-NAA (Acid α-napthilen acetic), IBA 2.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu (Indol butyric acid), IAA (Indole Acetic Acid); mỗi Xử lý số liệu theo thống kê sinh học trong lâm chất được chia theo 3 loại nồng độ: 500ppm; nghiệp trên phần mềm Excel và SPSS theo Nguyễn 1.000ppm và 1.500ppm. Lô đối chứng không sử dụng Hải Tuất và cộng sự, 2005 [6]. chất điều hoà sinh trưởng.

3쪽

N.T.Hai et al/ No.17_Aug 2020|p.26-31 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Hom giống được thí nghiệm với 03 loại: hom 3.1. Ảnh hƣởng của loại hom và kích thƣớc hom ngọn, hom giữa (bánh tẻ) và hom gốc với các kích giâm đến khả năng ra rễ của hom giâm loài Râu thước 5cm, 10cm, được tiến hành vào mùa Xuân hùm (Tacca chantrieri Andre) (tháng 3 năm 2019). Các kết quả thu được thể hiện trong bảng 1. Bảng 1: Ảnh hưởng của loại hom và kích thước hom giống đến tỷ lệ sống của loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) sau 90 ngày Sau 30 ngày Sau 60 ngày Sau 90 ngày Số hom sống Tỷ lệ Số hom sống Tỷ lệ Số hom sống Tỷ lệ (%) (%) (%) Hom ngọn (5cm) 83,3 ± 0,6 92,6 56,0 ± 1,0 62,2 26,0 ± 1,0 28,9 Hom ngọn (10cm) 86,0 ± 2,0 95,6 63,7 ± 0,6 70,7 31,7 ± 1,7 34,4 Hom giữa (5cm) 85,3 ± 1,2 94,8 64,0 ± 2,6 71,1 49,7 ± 2,5 55,2 Hom giữa (10cm) 86,3 ± 0,6 95,9 70,7 ± 0,6 78,5 61,0 ± 1,0 67,8 Hom gốc (5cm) 84,0 ± 1,0 93,3 44,7 ± 0,6 49,6 19,0 ± 1,7 21,1 Hom gốc (10cm) 85,7 ± 2,5 95,2 54,7 ± 1,5 60,7 24,0 ± 2,6 26,7 Kết quả nghiên cứu thu được ở bảng 1 cho thấy, khăn hơn, diễn ra lâu hơn các loại hom khác dẫn đến loại hom và kích thước hom có ảnh hưởng lớn đến khả tỷ lệ chết cao. năng nhân giống loài Râu hùm. Sau giâm 90 ngày, Xét về kích thước hom, tỷ lệ hom sống tăng dần hom giữa, dài 10 cm có tỷ lệ sống cao nhất với 67,8%; theo kích thước hom trong cả ba loại hom, các hom có tiếp đến là hai công thức hom giữa 5cm và hom ngọn tỷ lệ sống cao nhất ở các công thức tương ứng với 10 cm có tỷ lệ sống lần lượt là 55,2% và 34,4%. chiều dài 10cm. Xét theo loại hom thì ở cả hai công thức (5cm và Từ kết quả nhân giống ở trên, tác giả tiếp tục theo 10cm) hom gốc đều cho tỷ lệ sống sau giâm 90 ngày dõi ảnh hưởng của các loại hom giống có kích thước thấp nhất. Điều này là do các hom gốc bị hóa gỗ, bề 10cm đến tỷ lệ nảy chồi ở loài Râu hùm (Tacca mặt lớp vỏ cũng hình thành các lớp bần mỏng nên quá chantrieri Andre) sau 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày trình biệt hóa, hình thành mô sẹo và rễ gặp nhiều khó (bảng 2). Bảng 2: Ảnh hưởng của các loại hom giống với kích thước 10 cm đến tỷ lệ nảy chồi ở loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) Thời gian Sau 30 ngày Sau 60 ngày Sau 90 ngày Chỉ tiêu đánh giá Hom Hom Hom Hom Hom Hom Hom Hom Hom ngọn giữa 10 gốc 10 ngọn giữa 10 gốc 10 ngọn giữa 10 gốc 10 10 cm cm cm 10 cm cm cm 10 cm cm cm Số cây sống (tỷ lệ 86,0 ± 86,3 ± 85,7 ± 63,7 ± 70,7 ± 54,7 ± 31,7 ± 61,0 ± 24,0 ± %) 2,0 0,6 2,5 0,6 0,6 1,5 1,7 1,0 2,6 (95,6%) (95,9%) (95,2%) (70,7%) (78,5%) (60,7%) (34,4%) (67,8%) (26,7%) Số 1 chồi 86 45 33 63 54 21 31 41 19 chồi/Hom 2 chồi - 2 - - 7 3 - 16 5 > 2 - - - - - - 4 - chồi

앞 3페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!