1쪽
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác quản lý hoạt động đầu tư I.Một số vấn đề về đầu tư phát triển. 1.Khái niệm. a.Đầu tư là gì? - Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư: + Theo nghĩa rộng, trên quan điểm vĩ mô, đầu tư có nghĩa là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt giá trị (có thể không chắc chắn) ở tương lai. Giá trị hiện tại có thể hiểu là tiêu dùng, còn giá trị tương lai có thể hiểu là năng lực sản xuất có thể làm tăng sản lượng quốc gia. + Khái niệm thường dùng: đầu tư là quá trình sử dụng vốn hoặc các nguồn lực khác nhằm đạt được một hoặc một tập hợp các mục tiêu nào đó. - Từ các khái niệm trên chúng ta thấy đầu tư có đặc điểm chung như sau: + Nguồn lực sử dụng sẽ không mất đi mà lớn hơn nguồn lực sử dụng ban đầu khi thực hiện hoạt động đầu tư. + Mục tiêu của hoạt động đầu tư ở đây là kỳ vọng còn thực hiện hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác của chủ đầu tư. + Đều phải bỏ ra một chi phí nhất định ở hiện tại. + Phạm trù thời gian thường dài. - Từ đây ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về đầu tư: “Đầu tư nói chung là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra” b.Đầu tư phát triển. - Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm nhiều việc làm và vì mục tiêu phát triển. - Nguồn lực cho hoạt động đầu tư phát triển là rất lớn do bản chất của hoạt động này mang tính phức tạp hơn các hoạt động đầu tư khác. Xét theo nghĩa hẹp, nguồn www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
2쪽
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn còn theo nghĩa rộng có nghĩa là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên. - Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm một mục đích nhất định trong tương lai: + Xét theo phân công lao động xã hội có 2 nhóm chính là đầu thư ngành và đầu tư theo lãnh thổ. + Xét theo tính chất và mục đích đầu tư thì đầu tư chia thành công rình vì mục đích lợi nhuận và công trình vì mục đích phi lợi nhuận. + Xét theo góc độ tài sản đầu tư chia thành: tài sản vật chất và tài sản vô hình. - Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và tài sản vô hình, các kết quả này góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. - Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nahf đầu tư. Trong đó đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống các thành viên trong xã hội. Còn đầu tư của doanh nghiệp là tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực. - Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định vì việc xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng. Chủ đầu tư là nguwoif sở hữu vốn, ra quyết định đầu tư, quản lý quá trính thưc hiện và vận hành kết quả đầu tư và cũng là người hưởng lợi từ quá trình đầu tư đó. Chủ đầu tư cũng là người chịu trách nhiệm về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của việc đầu tư đến môi trường ,… vì vậy có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư. - Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong một thời kỳ dài và tồn tại vẫn đề “độ trễ thời gian”. Đây là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tu và thời gian vận hành kết quả đầu tư. Đầu tư ở hiện tại nhưng kết quả thu được ở trong tương lai. Việc kiểm soát được độ trễ thời gian giúp chủ đầu tư đưa ra những quyết định hợp lý từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. - Xét trên phương diện nền kinh tế, đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, dơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ, nó đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia. 2.Đặc điểm của đầu tư phát triển. a.Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường lớn. - Bản chất của hoạt động đầu tư phát triển là nhằm duy trì và tạo ra năng lực sản xuất mới vì vậy hoạt động này thường gắn với quá trình hình thành một loại sản www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
3쪽
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang phẩm cho xã hội dưới dạng các công trình xây dựng, nhà xưởng, máy móc trang thết bị khoa học hay thực hiện các chi phí phục vị cho một chu trình sản xuất kinh doanh nào đó, các sản phẩm này thường phức tạp nên để tạo ra được một sản phẩm như thế thường phải có nguồn vốn lớn. Mặt khác hoạt động này thường mang tính chất liên hoàn, đồng bộ tức là một công đoạn chưa hoàn thành thì chưa thể vận hành hoặc vận hành không hiệu quả nên lượng vốn đầu tư sẽ tồn tại dưới dạng sản phẩm dở dang, nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư và do có tính chất trên nên nguồn nguyên liệu đầu vào cũng phải phong phú, đa dạng và tương đối lớn, có thể phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đối với các dự án đầu tư phát triển thì phải thi công nhiều hạng mục công trình đòi hỏi kỹ thuật cao do đó cần một lượng lao động dồi dào, có tính chất công việc, trình độ chuyên môn trong nhiều lĩnh vực khác nhau mới có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra. b.Thời kỳ đầu tư kéo dài. - Vì tính chất phức tạp của dự án đầu tư phát triển, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao mới tao ra được kết quả đầu tư như mong muốn, cho nên trong quá trình đầu tư phải tỉ mit theo sát từng công đoạn thực hiện vì đây là công việc mang tính liên hoàn nên một công đoạn không tốt sẽ ảnh hưởng tới kết quả cuối cùng gây nên tổn thất to lớn cho chủ đầu tư. Bên cạnh đó các dự án còn chịu ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường làm công trình bị ngưng trệ và không thể thực hiện. Do công việc đòi hỏi sự kì công cũng như chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài không lường trước được nên hoạt động đầu tư phát triển thường có thời kỳ đầu tư kéo dài hơn các hoạt động đầu tư khác. c.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. - Thời gian vận hành là thời gian tính từ khi công trình đưa vào hoạt động đến khi hết thời gian sử dụng và đào thải công trình. Do lượng vốn đầu tư vào lớn nên khó có thể thu hồi được lượng vốn trong thời gian ngắn. Hơn nữa khi sản phẩm đưa vào sử dụng, cần một thời gian để tiếp cạn với người tiêu dùng và để xâm nhập vào thị trường, cho nên cần một thời gian vận hành dài để thu hồi vốn và có lãi, ngoài ra các công trình được đầu tư phát triển thường là các công trình kiên cố , phát huy tác dụng lâu dài 10 năm, 20 năm,… Trong quá trình vận hành kết quả đầu tư sẽ luôn chịu tác động tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị , khinh tế, xã hội nơi mà nó tồn tại. Để thích ứng, giải quyết các vấn đề này cần phải có thời gian đi tìm hiểu và khắc phục dần vì vậy sẽ kéo dài thời gian vận hành kết quả đầu tư. d.Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển hoạt động ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. - Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường là các công trình kiên cố không thể di dời được do đó quá trình vận hành kết quả đầu tư thường diễn ra ngay tại nơi mà nó được tạo dựng nên và chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên và xã hội của khu vực đó. Do đó trước khi thực hiện các dự án đầu tư cần phải tìm hiểu www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
앞 3페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.
댓글 (0)
댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!