Sổ tay hỏi đáp - Tình huống một số quy định mới của bộ luật dân sự 2015

THThiNganHang
다운로드 0회
69
0

자료 내용

1쪽

Facebook: @Dethivaonganhang facebook.com/dethivaonganhang SỔ TAY HỎI ĐÁP, TÌNH HUỐNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 Tình huống 1. A là một họa sỹ. A có ý định mở triển lãm trong thời gian 02 năm. B là một người khách đến xem tranh, rất thích bức tranh có tên “Êm” và đề nghị được mua bức tranh này. A và B thống nhất giá bán bức tranh là 2 triệu đồng, A sẽ hỗ trợ cho người giao tranh đến tận nhà cho B. Sau khi B trả đủ 2 triệu đồng cho A, ba ngày sau, A đã giao bức tranh cho B tại nhà B. Khi mở bức tranh ra xem thì B thấy bức tranh bị nhòe mực. Hỏi ra mới biết A trên đường vận chuyển gặp cơn mưa nhưng do có quá nhiều tranh phải vận chuyển nên C không dừng lại trú mưa. Vì vậy B yêu cầu A bồi thường thiệt hại. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Theo Khoản 4 Điều 8 Bộ luật dân sự năm 2015 bức tranh là kết quả của hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của A, do đó, A có quyền sở hữu đối với bức tranh, đồng thời, A cũng có quyền tác giả đối với bức tranh. Bức tranh là một tài sản hợp pháp, A và B giao kết hợp đồng mua bán bức tranh, theo Khoản 1 Điều 8, A có quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho chủ thể khác và B có quyền xác lập quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng. Hợp đồng xác lập giữa A và B là hợp đồng mua bán tài sản, một trong những loại hợp đồng thông dụng và rất phổ biến trong đời sống xã hội. Bức tranh đã bị thiệt hại là không còn giữ được toàn vẹn của tác phẩm. Nguyên nhân là do hành vi của C. Theo Khoản 7 Điều 8, Bộ luật dân sự năm 2015 B có quyền yêu cầu C phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định của pháp luật. Tình huống 2. C là chủ sở hữu chiếc điện thoại Iphone 7 vừa mới được giới thiệu bán trên thị trường. B không đủ tiền mua nhưng rất thích chiếc điện thoại này nên mượn của C chiếc điện thoại để xem trong một ngày. Khi đang xem điện thoại thì bạn gái của B là E đến chơi. Do tính cách sĩ diện nên B nói đây là điện thoại của mình và tặng cho E chiếc điện thoại này. Sau đó, B nói với C là đã bị móc trộm điện thoại trên đường và hứa khi nào đủ tiền sẽ mua đền C chiếc điện thoại khác. Trong một lần đi sinh nhật, C nhận thấy chiếc điện thoại của mình đang do E dùng vì có một số đặc điểm của chiếc JB.com.vn | ThiNganHang.com Trang 1

2쪽

Facebook: @Dethivaonganhang facebook.com/dethivaonganhang điện thoại chỉ mình C biết. Hai bên cãi vã to tiếng. Trong cơn nóng giận, E vứt chiếc điện thoại thẳng vào tường và chiếc điện thoại bị vỡ, hỏng nặng, không sử dụng được. C đã phát hiện ra sự thật và yêu cầu B phải mua đền cho mình chiếc Iphone 7 khác. Điều 11 BLDS năm 2015 quy định về các phương thức bảo vệ quyền dân sự. Theo đó, trong tình huống nêu trên, C đã bị xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản là chiếc điện thoại của mình. Do đó, C có quyền thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự. Trước hết, C có quyền tự bảo vệ quyền dân sự, yêu cầu E (người đang chiếm giữ chiếc điện thoại) trả lại điện thoại cho mình. C có quyền yêu cầu B bồi thường thiệt hại cho chiếc điện thoại mà B đã mượn, không trả lại và nay đã bị hỏng. Trường hợp B không thực hiện trách nhiệm của mình, C có quyền khởi kiện yêu cầu B bồi thường thiệt hại do đã xác lập hợp đồng mượn tài sản với mình nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản, đã có hành vi chuyển giao trái pháp luật tài sản cho chủ thể khác và làm hỏng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của C. Tình huống 3: A 10 tuổi trở thành trẻ mồ côi sau một tai nạn bị mất cả cha và mẹ. M là cô ruột của A đã thực hiện các thủ tục để giám hộ cho A. M đồng thời quản lý căn nhà và các tài sản khác của bố mẹ A để lại. 3 năm sau, do A chơi với các bạn xấu, A về đòi cô giao các tài sản của bố mẹ để bán lấy tiền chơi điện tử. M không đồng ý và còn nghiêm khắc mắng A. A đã lén lút lấy một số tài sản và bán cho O. M biết chuyện yêu cầu O phải trả lại tài sản nhưng O cho rằng đây là tài sản của A, M chỉ là người giữ hộ nên M không có quyền gì đối với các tài sản này. A đã bán cho O thì các tài sản đương nhiên thuộc sở hữu của O. Điều 19 BLDS năm 2015 quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Theo đó, trong tình huống nêu trên A chưa có đủ năng lực hành vi dân sự để có thể tự mình bằng hành vi của mình xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự. Do đó, việc A tự mình bán các tài sản của bố mẹ để lại cho O sẽ không là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản cho O. M có quyền yêu cầu O phải trả lại các tài sản này. JB.com.vn | ThiNganHang.com Trang 2

3쪽

Facebook: @Dethivaonganhang facebook.com/dethivaonganhang Tình huống 4: Sau một tai nạn giao thông, H bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe tâm thần của H không được đảm bảo, lúc nhớ lúc quên và xuất hiện một số hiện tượng nổi nóng cũng như một số hành vi không kiểm soát. Để tránh tình trạng H sẽ gây thiệt hại cho người khác hoặc sẽ mang tài sản của gia đình đi bán, K là vợ của H đã yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xác định H trong tình trạng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ vào kết luận của giám định pháp y tâm thần, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố H là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Tuy nhiên, để giữ thể diện trong gia đình, K không công khai chuyện này cho mọi người được biết. Trong một lần H đang thơ thẩn chơi quanh xóm, H đã gặp P là bạn cũ. Nói chuyện được vài câu, P phát hiện H không được minh mẫn nên đã gạ H cho mình chiếc đồng hồ H đang đeo. H liền cởi đồng hồ cho P. Phát hiện ra chuyện, K đã yêu cầu P trả đồng hồ nhưng P cho rằng H thành niên, có quyền xác lập hợp đồng tặng cho tài sản cho P và P là chủ sở hữu của chiếc đồng hồ này căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa P và H. Điều 23 BLDS năm 2015 quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ theo Điều 23, trong tình huống nêu trên, H được xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bởi vì, H đáp ứng các điều kiện: (i) người thành niên do tình trạng tinh thần không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự; (ii) có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan là vợ; (iii) có kết luận giám định pháp y tâm thần; (iv) có quyết định của Tòa án tuyên H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, các giao dịch dân sự của H phải tuân theo quy định của pháp luật, cần có sự tham gia của người giám hộ. Việc H tự mình xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với P, do đó, không thể phát sinh hiệu lực cho hợp đồng này và cũng không thể căn cứ trên hợp đồng này để xác lập quyền sở hữu cho P. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, P phải trả lại chiếc đồng hồ. JB.com.vn | ThiNganHang.com Trang 3

4쪽

Facebook: @Dethivaonganhang facebook.com/dethivaonganhang Tình huống 5: N là một nhà văn. Sau một lần ốm nặng không phát hiện và chữa trị kịp thời, N đã không còn nhận thức được bình thường. Vợ của N đã yêu cầu Tòa án tuyên N là mất năng lực hành vi dân sự và đã được Tòa án ra quyết định tuyên N mất năng lực hành vi dân sự. Một thời gian sau, do biết N đã không còn trí tuệ bình thường, bạn trong hội sáng tác của N là M đã sao chép gần như nguyên vẹn một tác phẩm của N và xuất bản, bán ra ngoài thị trường. Vợ của N đã yêu cầu M phải chấm dứt ngay hành vi này và có sự xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng M phản đối và nói rằng đây chỉ là quyền của N. Theo Điều 25 BLDS năm 2015 quy định về quyền nhân thân. Theo đó, căn cứ trên tình huống nêu trên, N là tác giả của các tác phẩm do N sáng tác do đó, N có quyền nhân thân là quyền tác giả đối với tác phẩm. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, quyền công bố tác phẩm thuộc quyền tác giả là quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác. Những quyền khác thuộc quyền tác giả là quyền gắn liền với tác giả, không thể chuyển giao. Khi N bị mất năng lực hành vi dân sự, quyền tác giả của N không chấm dứt. Căn cứ theo Điều 25, trường hợp này, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của N sẽ do người đại diện theo pháp luật của N đồng ý. Do đó, M không được phép xâm phạm quyền tác giả của N. Nếu M muốn sử dụng các tác phẩm của N phải xác lập các quan hệ dân sự và được sự đồng ý của vợ N, trường hợp N là đại diện theo pháp luật. Tình huống 6: A là người Hà Nội đi tình nguyện mùa hè và gặp B là người dân tộc Hà Nhì. Thấy B xinh xắn và dễ thương, lại được học hành tử tế, A đem lòng yêu mến và xin phép gia đình được cưới B. Một năm sau, B sinh một bé trai kháu khỉnh. A đi đăng ký khai sinh cho con và dự định sẽ đăng ký cho con thuộc dân tộc Kinh nhưng B phản đối. B cho rằng theo tập quán tại quê hương của B thì con đầu lòng phải xác định dân tộc theo dân tộc của mẹ. A không đồng ý vì cho rằng như vậy sẽ ảnh hưởng đến tương lai của đứa trẻ. Hai vợ chồng không thể thống nhất trong việc xác định dân tộc của đứa trẻ trong giấy khai sinh là như thế nào. Điều 29 BLDS năm 2015 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc. Theo đó, dân tộc của cá nhân được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ. Nếu hai người này không cùng dân tộc thì cần sự thỏa thuận của cha mẹ, hoặc JB.com.vn | ThiNganHang.com Trang 4

5쪽

Facebook: @Dethivaonganhang facebook.com/dethivaonganhang theo tập quán nếu không thỏa thuận được. Tình huống nêu trên, A và B là hai người thuộc hai dân tộc khác nhau và không thể thống nhất về xác định dân tộc cho con của họ. Xét trên tập quán của hai dân tộc cũng không thể xác định được cho đứa trẻ. Do đó, theo Điều 29, dân tộc của đứa trẻ được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn. Nói cách khác, trường hợp này, dân tộc của đứa trẻ được xác định là theo dân tộc của mẹ. Tình huống 7: A yêu và kết hôn với một người đàn ông Pháp. A sinh ra E là con gái đầu lòng. Do mâu thuẫn từ lâu với gia đình của A, B là hàng xóm đã sang chế giễu E không thể là người Việt Nam, là loại con lai, nên đi nước ngoài mà sống. Con của B là M làm tại ủy ban phụ trách việc làm giấy khai sinh cho cá nhân. Do bị sức ép từ B, M kiên quyết yêu cầu A phải khai quốc tịch của E là quốc tịch Mỹ hoặc M sẽ không đồng ý ghi nhận quốc tịch của E là Việt Nam. Điều 31 BLDS năm 2015 quy định về quyền đối với quốc tịch. Theo đó, trong tình huống trên, E đương nhiên có quyền có quốc tịch. E được sinh ra tại Việt Nam, có mẹ là người mang quốc tịch Việt Nam. Do vậy, đương nhiên, E được quyền xác định quốc tịch của E là quốc tịch Việt Nam. Mọi hành vi cản trở việc ghi nhận quốc tịch của E trái pháp luật đều là sự vi phạm quyền đối với quốc tịch của E. Tình huống 8: B là một nữ sinh đang theo học năm thứ hai tại Đại học X. Vốn có vẻ ngoài ưa nhìn, B thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa và chụp rất nhiều ảnh với bạn bè hoặc chụp các ảnh cá nhân tại các sự kiện, lễ hội. Những bức ảnh của B được rất nhiều các bạn trai cùng lớp hâm mộ và nhiều bạn đã tự ý sao chép ảnh của B để làm màn hình nền trên máy điện thoại hoặc máy tính cá nhân. D là một trong những bạn trai này. Một lần đến chơi nhà người họ hàng sắp mở Spa đang thiếu ảnh nền để treo quảng cáo tại Spa. D đã khoe ảnh của B và cho người họ hàng này in ảnh của B treo tại Spa để quảng cáo cho dịch vụ làm đẹp tại Spa. B biết được điều này đã yêu cầu tiệm Spa gỡ hết các ảnh của mình xuống vì chưa được sự cho phép của mình. Nếu thực sự muốn giữ lại các bức ảnh thì Spa phải có nghĩa vụ trả tiền cho B khi sử dụng các bức ảnh này. Tiệm Spa cho rằng bức ảnh này của B được tiệm Spa treo là làm nổi tên tuổi của B, đáng nhẽ B phải JB.com.vn | ThiNganHang.com Trang 5

6쪽

Facebook: @Dethivaonganhang facebook.com/dethivaonganhang trả tiền quảng cáo cho tiệm Spa. Do đó, tiệm Spa từ chối trả bất kỳ khoản tiền gì cho B và cũng không chịu gỡ các bức ảnh này xuống. Điều 32 BLDS năm 2015 quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Theo đó, trong tình huống nêu trên, B hoàn toàn có quyền đối với các hình ảnh của mình. Đối với bất kỳ người nào sử dụng các bức ảnh của B phải được sự đồng ý của B. Việc tiệm Spa sử dụng hình ảnh của B để quảng cáo cho các dịch vụ làm đẹp là việc sử dụng vì mục đích thương mại, do đó, tiệm Spa phải trả thù lao cho B là người có hình ảnh. Trường hợp những người sử dụng hình ảnh của B và tiệm Spa không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh của B dù đã được B yêu cầu thì B có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu những chủ thể này chấm dứt các hành vi xâm phạm. Nếu B chứng minh được vì các hành vi này mà B bị thiệt hại thì B còn có quyền yêu cầu các chủ thể này phải bồi thường thiệt hại cho B theo quy định của pháp luật. Tình huống 9: Trong một năm liên tục, gia đình A phải chăm sóc E là bà nội trong gia đình bị bệnh nặng phải nằm liệt một chỗ. Bà E rất đau đớn vì bệnh tật mang lại. Suốt một năm, bà liên tục phải truyền thuốc, tiêm thuốc, người không hoạt động được, mọi sinh hoạt trong gia đình đều phải nhờ vào con cháu. Quá đau đớn về thể xác, chán nản về tinh thần và rất thương xót con cháu, bà E đã khẩn khoản xin con cháu cho mình được chết nhưng mọi người trong gia đình đều không đồng ý. Một lần, bạn của bà E đến chơi, bà E đã kể toàn bộ nỗi khổ cho bạn mình và có lời “nhờ” khi nào sức khỏe của bà yếu hơn nữa và phải thở bằng oxy thì nhờ bạn đến thuyết phục với gia đình cho bà E được chết, trường hợp gia đình không đồng ý thì bà E xin bạn mình tìm điều kiện để rút ống thở cho mình được chết. Một thời gian ngắn sau sức khỏe của bà E rất yếu, bà E hầu như không còn nhận biết được mọi việc và phải trợ thở bằng oxy. Theo đúng lời dặn dò của bà E, bạn bà đã thuyết phục gia đình A nhưng vẫn không nhận được sự đồng ý của gia đình. Cuối cùng, bạn bà E đã chờ lúc mọi người trong gia đình ra khỏi phòng để tranh thủ rút ống thở theo đúng tâm nguyện của bà E. Tuy nhiên, do để quên đồ nên A quay lại vừa lúc ống thở của bà E bị rút. A làm ầm lên, cắm lại ống thở và đòi đưa bạn bà E lên công an vì có ý định giết bà E. Bạn bà E phản đối và nói rằng chỉ làm theo tâm nguyện của bà E mà thôi. JB.com.vn | ThiNganHang.com Trang 6

앞 6페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!