Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán - Bài tập Luật Chứng khoán

THThiNganHang
다운로드 1회
11
0

자료 내용

1쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang RỦI RO TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN - BÀI TẬP LUẬT CHỨNG KHOÁN *** Đề bài: Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán: Phân loại, nguyên nhân và các quy định pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro trên cơ sở tình hình, chính sách phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2013 đến nay. MỞ ĐẦU Kinh doanh chứng khoán là nghề thương mại đặc thù, có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích các nhà đầu tư là công chúng và các doanh nghiệp.Có thể nói, thị trường chứng khoán là chỉ báo quan trọng của kinh tếvĩ mô, nó tác động đến ổn định kinh tế vĩ mô. Đến lượt nó, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tác động đến thị trường chứng khoán. Lịch sử phát triển thăng trầm và nhiều biến động của thị trường chứng khoán trong những năm qua đã chứng minh rằng – thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế vĩ mô của mỗi đất nước, để từ đó nhà nước có các chính sách điều hành nền kinh tế phù hợp. Tuy nhiên, là hoạt động kinh doanh, các chủ thể khi tham gia vào “mạng lưới” của nó sẽ phải đối mặt với những rủi ro nhất định. NỘI DUNG. I. Khái quát chung về kinh doanh chứng khoán. 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán - Khái niệm: Trong pháp luật thực định ở các nước, tùy thuộc vào quan điểm tiếp cận của các nhà làm luật nên khái niệm kinh doanh chứng khoán được định nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Ví dụ: Trong pháp luật chứng khoán của một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia… hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm các hành vi môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư và danh mục đầu tư chúng khoán; trong khi đó, Luật chứng khoán Trung Quốc hoàn toàn không đưa ra định nghĩa chính thức nào về kinh doanh chứng khoán mà chỉ có các quy định về giao dịch chứng khoán ( ) Ở Việt Nam, “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán , bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”(2) www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

2쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Về cơ bản, cách định nghĩa này khá tương đồng với khái niệm kinh doanh chứng khoán trong pháp luật với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước ở khu vực Châu Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… - Đặc điểm: Xét về phương diện lý thuyết, hoạt động kinh doanh chứng khoán gồm các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, kinh doanh chứng khoán là nghề thương mại đặc thù, có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của các nhà đầu tư công chúng và các doanh nghiệp. Thứ hai, đối tượng của hoạt động kinh doanh chứng khoán là các chứng khoán – giá trị động sản và các dịch vụ về chứng khoán. Thứ ba, hoạt động kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ một số nguyên tắc đặc thù của thị trường chứng khoán như: nguyên tắc công bằng, công khai và minh bạch để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư. Việc thể chế hóa bằng pháp luật những nguyên tắc này là những đảm bảo pháp lý cho sự vận hành an toàn, hiệu quả của thị trường chứng khoán đồng thời bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư tham gia thị trường. 2. Vai trò của hoạt động kinh doanh chứng khoán. Một cách khái quát, vai trò của hoạt động kinh doanh chứng khoán được thể hiện chủ yếu ở các khía cạnh sau: - Thứ nhất, kinh doanh chứng khoán là phương tiện để thiết lập kênh dẫn vốn trực tiếp giữa các nhà đầu tư là công chúng với Chính phủ và doanh nghiệp. - Thứ hai, kinh doanh chứng khoán giúp cho dòng vốn đầu tư trên thị trường chứng khoán vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn thông qua các nghiệp vụ chính như môi giới chính khoán, bảo lãnh phát hành, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư hay tư vấn đầu tư chứng khoán. - Thứ ba, kinh doanh chứng khoán là chất xúc tác, thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động thông qua đòn bẩy lợi ích kinh tế của các nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp. Vai trò và tác động của hoạt động kinh doanh chứng khoán đối với hoạt động kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là không thể phủ nhận. Bởi đặc thù của thị trường chúng khoán cũng như vai trò quan trọng của hoạt động kinh doanh chứng khoán nên quy định pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam rất quan trọng. II. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán và nguyên nhân phát sinh các rủi ro trong hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

3쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang 1. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán là khả năng xảy ra những việc bất lợi cho xác chủ thể kinh doanh chứng khoán khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. Thứ nhất, căn cứ vào tính có hệ thống của thị trường chứng khoán nói chung, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có thể được phân thành “rủi ro có hệ thống” và “rủi ro phi hệ thống” - Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết chứng khoán. Rủi ro hệ thống được chia thành ba loại: Rủi ro thị trường, Rủi ro lãi suất, Rủi ro sức mua. - Rủi ro phi hệ thống là phần rủi ro mà các chủ thể kinh doanh có thể loại bỏ được trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. Thứ hai, căn cứ vào các nghiệp vụ của hoạt động kinh doanh chứng khoán, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán phân thành các loại: rủi ro môi giới chứng khoán, rủi ro trong bảo lãnh phát hành chứng khoán, rủi ro trong hoạt động tự doanh chứng khoán, rủi ro trong tư vấn đầu tư chứng khoán, rủi ro trong lưu ký chứng khoán và rủi ro trong quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. 2. Nguyên nhân của các rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Các nguyên nhân này thể hiện như sau: Thứ nhất, các nguyên nhân khách quan - Chính sách nhà nước Các cơ quan chính phủ có thể ban hành nhiều loại chính sách khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà đầu tư, ví dụ như: mức thuế cho lợi nhuận từ đầu tư, các quy định về việc được mua bán chứng khoán,... Các chính sách đó có thể khiến các nhà đầu tư không thể thực hiện được các chiến lược ban đầu đã dự định. Đặc biệt là khi chính sách đột ngột thay đổi, nhà đầu tư có thể bị mắc kẹt nếu không mau chóng thay đổi để phù hợp với chuẩn mới theo quy định pháp luật. Ví dụ: Năm 2010, Thông tư số 19/2010 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung cho thông tư số 13/2010 quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn của tổ chức tín dụng được ban hành. Hai thông tư này là văn pháp lý có ảnh hưởng lớn nhất đối với thị trường chứng khoán năm 2010 khi được xem là tác nhân gây lo lắng về khả năng thoái vốn ồ ạt của các ngân hàng, giảm hoạt động cho vay của đầu tư chứng khoán… nhằm đảm bảo vốn an toàn tối thiểu theo chuẩn mới. - Thứ hai, thông tin được công khai, minh bạch. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

앞 3페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!