Luật bình đẳng giới - Một số vấn đề của người phụ nữ trong chế độ phong kiến

THThiNganHang
다운로드 0회
12
0

자료 내용

1쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM *** A. MỞ ĐẦU. Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống, tư tưởng nặng nề của nho nho giáo, pháp luật Việt Nam thời phong kiến mặc dù đã ghi nhận đảm bảo quyền của người phụ nữ trong các quan hệ xã hội đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân để đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong trong gia đình được quy định trong hai bộ luật tiêu biểu là Bộ Luật Hông Đức và Bộ Luật Gia Long .Nhưng, xét về mặt tổng thể thì phụ nữ Việt Nam thời kỳ đó vẫn còn bị đối xử rất hạn chế hơn rất nhiều so với nam giới, họ bị hạn chế trong việc sở hữu tài sản, trong giáo dục, ít có tiếng nói trong gia đình và xã hội, phải mang nhiều gánh nặng xã hội với vai trò kép....Để hiểu rõ hơn về vị thế, vai trò của người phụ nữ trong thời kỳ này, bài viết dưới đây sẽ đi phân tích đề tài: “Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam.” B. NỘI DUNG. I. Vấn đềquyền của người phụ nữ. 1. Khái niệmquyền của người phụ nữ. Khi tiếp cận vấn đề quyền của người phụ nữ, thì khái niệm quyền phụ nữ trước hết phải được hiểutrên cơ sở quyền con người, khái niệm quyền phụ nữ cần phải được nghiên cứu trong mối liên hệ khăng khít với quyền con người, phụ nữ cũng như nam giới họ phải được hưởng tất cả những quyền con ngườimà pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia, chưa có một định nghĩa chính thức về quyền con người mà chỉ dừng lại ở việc liệt kê các quyền con người. Trên cơ sở nghiên cứu của các nhà luật học khi tiếp cận về vấn đề này thì có thể hiểu “ Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với Nhà nước và với những cá nhân con người khác” . www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1

2쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Quyền phụ nữ là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ nữ. Phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, dễ bị tổn thương. Do đó, việc xác định, ghi nhận các quyền con người cho họ, đặc biệt đảm bảo trên cơ sở tiêu chí bình đẳng là cần thiết. Đó cũng chính là cơ sở đểtiến hành bảo vệ quyền con người của phụ nữ. Bảo vệ quyền con người bằng công cụ pháp luật cũng là một trong những phương thức rất quan trọng nhằm đảm bảo tối ưu quyền của người phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng. 2. Khái quát chung về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Lịch sử loài người đã trải qua giai đoạn mà địa vị của người phụ nữ được tôn vinh, người phụ nữ có nhiều quyền hành và địa vị “ vinh dự “ hơn người đàn ông. Đó là giai đoạn màPh. Ăngghen gọi là giai đoạn của chế độ “ mẫu quyền”. Ở chế độ này người đàn bà có vai trò và địa vị quan trọng trong gia đình. Quyền lực trong gia đình thuộc về người phụ nữ. Nhưng rồi chế độ mẫu quyền bị lật đổ và thay vào đó là chế độ phụ quyền, dưới chế độ này địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội thấp hơn nam giới một cách rõ rệt, sự phân biệt đối xử với phụ nữ diễn ra ở khắp mọi nơi, làm trở ngại lớn cho việc phụ nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào đời sống chính trị, gia đình và xã hội. Như vậy, sự bất bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà đã xảy ra, kéo dài trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử loài người và diễn ra ở khắp mọi noi trên thế giới. Ở Việt Nam, thời phong kiến – pháp luật đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo nên địa vị của người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới. Sự bất bình đẳng được thể hiện trước tiên chính là sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình. Với quan niệm cần phải có con trai để nối dõi tông đường nên xã hội phong kiến cho rằng “ nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Quan điểm này chính là khởi điểm cho sự bất bình đẳng mà phụ nữ ở chế độ phong kiến phải gánh chịu. Tư tưởng đó là tư tưởng chủ đạo, căn bản của xã hội phong kiến và nguyên tắc bất bình đẳng nam nữ đã trở thành tư tưởng chỉ đạo trong cả hai văn bản pháp luật được đánh giá là thành tựu lập pháp của Nhà nước phong kiến Việt Nam là Bộ luậtHồng Đức và Bộ luật Gia Long. Trong đó có khá nhiều điểm tiến bộ được đề cập trong việc bảo vệ quyền cử người phụ nữ. II. Quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2

3쪽

Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang 1. Những quy định về quyền của người phụ nữ trong Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triêu hình luật). “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê – thế kỉ XV. Đây có thể coi là thời kỳ hưng thịnh nhất của phong kiến Việt Nam nói chung và của nhà Lê nói riêng. Bởi vậy, Bộ luật Hồng Đức cũng thể hiện nhiều điểm khá tiến bộ trong việc bảo vệ quyền phụ nữ. Đặc thù nhất thể hiện trong hai chương “ Hôn điền “ và “ Điền sản” . Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ – điều mà các bộ luật trước đó không mấy quan tâm. Bộ luật có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân – gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình và thậm chí còn trao cho người phụ nữ quyền quan trọng và rất mới mà chưa nhà nước phong kiến nào có. 1.1 Trong chương Hôn điền. - Việc kết hôn và ly hôn: Điều 322 - "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu “ con rể lăng mạ cha mẹ vợ , đem thưa quan, cho ly dị”. Đây là điều khoản cho thấy sự tiến bộ của các nhà làm luật lúc bấy giờ khi họ cho người phụ nữ quyền từ chối kết hôn và ly hôn với một người đàn ông nếu như họ cảm thấy anh ta có nhân cách không tốt. Một trong những điều luật rất tiến bộ chưa từng thấy ở Việt Nam trước đó. Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc, không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ . Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, chăm sóc vợ trong 5 tháng. Điều 308, 333 Quốc triều hình luật có quy định “ Chồng xa cách vợ không lui tới suốt 5 tháng thì vợ được phép trình quan sở tại, quan sở tại làm chứng thì người chồng đó mất vợ” hoặc nếu con rể mắng nhiếc cha mẹ vợ bởi chuyện phi lý thưa lên, quan sẽ cho li dị”. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3

앞 3페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!