Luận văn thạc sĩ văn học - Ảnh hưởng của dân ca dân tộc Mông trong truyện thơ Tiếng Hát Làm Dâu

THThiNganHang
다운로드 0회
146
0

미리보기 생성 중...

자료 내용

1쪽

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- NGUYỄN TỊNH THỦY ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN CA DÂN TỘC MÔNG TRONG TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC DÂN GIAN Hà Nội -2012

2쪽

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- NGUYỄN TỊNH THỦY ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN CA DÂN TỘC MÔNG TRONG TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: VĂN HỌC DÂN GIAN Mã số: 60 22 36 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hà Công Tài Hà Nội - 2012

3쪽

MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 1. Giới thuyết đề tài:............................................................................................. 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: .............................................................................. 3 3. Đối tƣợng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứƣ:........... 4 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: ................................................................................ 4 5. Cấu trúc luận văn:............................................................................................ 5 NỘI DUNG ............................................................................................................ 6 CHƢƠNG 1: TRUYỆN THƠ VÀ CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CA DÂN TỘC MÔNG VÀ TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU ................ 6 1.1. Khái niệm truyện thơ và sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian........................................................................................... 6 1.1.1. Khái niệm truyện thơ.......................................................................... 6 1.1.2. Các nhóm truyện thơ tiêu biểu............................................................7 1.1.3. Sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian Việt Nam .............9 1.2. Cơ sở của mối quan hệ giữa dân ca dân tộc Mông và truyện thơ Tiếng hát làm dâu........................................................................... 12 1.2.1. Cơ sở lịch sử - xã hội........................................................................13 1.2.2. Cơ sở nội tại văn học.........................................................................17 Tiểu kết ................................................................................................................25 CHƢƠNG 2: SỰ TIẾP NHẬN NỘI DUNG THẨM MĨ DÂN CA DÂN TỘC MÔNG TRONG TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU...............................27 2.1. Đề tài, chủ đề, giá trị nội dung và ý nghĩa tƣ tƣởng.................... 28 2.1.1. Đề tài và chủ đề................................................................................28 2.1.2. Giá trị nội dung và ý nghĩa tư tưởng................................................39 2.2. Phong tục, tập quán và không gian sinh hoạt văn hóa miền núi . 41 2.2.1. Những luật tục, hủ tục lạc hậu, hà khắc trong nghi thức hôn nhân – cƣới hỏi..................................................................................................... 41

4쪽

2.2.2. Không gian sinh hoạt văn hóa miền núi.......................................... 54 2.3. Quan niệm về số phận và tâm lí đặc trƣng của con ngƣời trong xã hội Mông........................................................................................ 57 2.4. Tâm trạng nhân vật trữ tình:..................................................... 60 Tiểu kết ................................................................................................................ 70 CHƢƠNG 3: SỰ CHUYỂN HÓA CÁC YẾU TỐ THI PHÁP DÂN CA DÂN TỘC MÔNG TRONG TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU...................... 72 3.1. Hệ thống cốt truyện và kết cấu .................................................. 72 3.1.1. Yếu tố tự sự tạo nên cốt truyện......................................................... 72 3.1.2. Sự vận động của cốt truyện theo xu hướng kết thúc bi kịch............ 77 3.1.3. Kết cấu trùng điệp và kết cấu tương phản ....................................... 82 3.2. Mô – tip nhân vật và mô- típ biểu tƣợng .................................... 86 3.2.1. Mô – típ nhân vật anh yêu – em yêu ................................................ 86 3.2.2. Mô – típ biểu tượng con đường........................................................ 87 3.3. Tuyến nhân vật và hình tƣợng nhân vật trữ tình........................ 90 3.3.1. Tuyến nhân vật chính diện – phản diện........................................... 90 3.3.2. Tuyến nhân vật trung tâm – ngoại biên........................................... 92 3.3.3. Hình tượng nhân vật trữ tình : nhân vật em yêu............................. 94 3.4. Phong cách trữ tình ................................................................... 95 3.4.1. Lời văn nghệ thuật........................................................................... 95 3.4.2. Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật.................................. 96 3.4.3. Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất thơ............................................... 97 3.4.4. Phương thức và hình thức diễn xướng............................................ 99 Tiểu kết .............................................................................................................. 101 KẾT LUẬN........................................................................................................ 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................. 105 PHỤ LỤC........................................................................................................... 108

5쪽

Danh mục các chữ viết tắt 1. GS.: Giáo sƣ 2. Nxb: Nhà xuất bản 3. PGS.: Phó giáo sƣ 4. TS.: Tiến sĩ 5. TSKH: Tiến sĩ khoa học 6. tr.: trang 7. xb: xuất bản Danh mục các bảng biểu STT Tên bảng Nội dung khảo sát Đề tài ba truyện thơ Tiếng hát làm dâu, A Thào – Nù Câu, 1 2.1 Nhàng Dợ - Chà Tăng Số lượng câu thơ tiếp nhận nội dung thẩm mĩ từ bốn loại dân 2 2.2 ca dân tộc Mông trong ba truyện thơ Tiếng hát làm dâu, A Thào – Nù Câu, Nhàng Dợ - Chà Tăng 3 2.3 Các cung bậc tâm trạng nhân vật trữ tình 4 2.4 Tần suất xuất hiện hình ảnh nước mắt Tần suất xuất hiện các từ ngữ trực tiếp bộc lộ tâm trạng nhân 5 2.5 vật trữ tình 6 3.1 Hình ảnh, từ ngữ biểu trưng cho cái chết 7 3.2 Âm hưởng kết thúc tác phẩm 8 3.3 Kết cấu trùng điệp và kết cấu tương phản 9 3.4 Tần suất xuất hiện biểu tượng con đường 10 3.5 Tần suất xuất hiện nhân vật phản diện mẹ chồng

6쪽

MỞ ĐẦU 1. Giới thuyết đề tài: Như chúng ta đã biết thuật ngữ Folklore ra đời đóng vai trò là một khái niệm dùng để chỉ phong tục, tập quán, nghi thức mê tín, ca dao, tục ngữ…của người thời trước. Folklore trên thế giới là khái niệm tương ứng với văn hoá dân gian, văn học dân gian của người Việt. Văn hóa dân gian, văn học dân gian từ bao đời này đã trở thành một nền tảng văn hóa chiếm vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt tinh thần của người Việt cũng như của các dân tộc khác. Đặc biệt là văn học dân gian. Nền văn học này ra đời từ trong xã hội công xã nguyên thủy, phát triển rực rỡ qua thời gian, kiến tạo nên mười hai thể loại nhỏ hơn, các thể loại này lần lượt ra đời trong sự kế thừa và chuyển hóa các yếu tố văn hóa, văn học có trong đời sống sinh hoạt tinh thần của cộng đồng, của tập thể. Liên tục bổ sung các thể loại mới để kịp thời phản ánh trung thực các hiện tượng xã hội lịch sử. Quan trọng hơn là từ trong văn học cổ đại các thể loại văn học đã có sự tương trợ, và kế thừa lẫn nhau để sản sinh ra nhiều thể loại văn học mới. Dựa trên sự biến thiên của lịch sử và sự vận động của xã hội, đã có rất nhiều thể loại văn học mới được hình thành và phát triển dựa trên các nguồn gốc ngoại sinh và nội sinh. Tiếp thu và kế thừa các truyền thống của văn học dân gian không chỉ còn là sự kế thừa mang tính chất giai đoạn nữa mà ngay trong sự nội tại phát triển của từng thể loại cũng dẫn dắt người tiếp nhận đến với thế giới của sự sáng tạo tập thể. Không chỉ đến với văn học viết ta mới thấy có sự ảnh hưởng của nhóm văn học dân gian trong phong cách sáng tạo nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà văn, mà quan trọng hơn, ngay chính bản thân văn học dân gian cũng là một quá trình kế thừa và phát triển, là một quá trình ảnh hưởng, giao thoa giữa các thể loại văn học. Như vậy có thể khẳng định một điều văn học dân gian có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến dòng văn học Việt Nam. Từ giai đoạn văn học trong xã hội cổ đại đến văn học trong xã hội Nho giáo và hiện đại. Từ văn học của người Việt đến văn học của các dân tộc thiểu số ít người. Điều đó cho thấy sự ảnh hưởng và sức lan toả mạnh mẽ của văn học dân gian trong hiện thực sinh hoạt tinh thần của con người. 1

7쪽

Nhận thấy vai trò quan trọng của văn học dân gian đối với văn chương – đặc biệt là sự ảnh hưởng của truyền thống thơ ca trữ tình dân gian đến các thể loại văn học- đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này. Tuy nhiên cũng mới chỉ dừng lại trong tiến trình tìm hiểu và nghiên cứu đậm đặc đối với nền văn học của người Việt. Nền văn học của các dân tộc thiểu số khác với sự ảnh hưởng của văn học dân gian, của dân ca trữ tình vẫn còn là một khoảng trống dường như là vô tận. Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dân tộc thiểu số Mông cũng là một trong những tộc người có nền văn học khá phát triển. Và có thể nói sự ảnh hưởng của folklore đến nền văn học của đồng bào là rất lớn. Bởi người Mông cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác, họ không có giai đoạn văn học trung đại đóng vai trò trung gian như người Việt. Vì thế nên văn học dân gian của tộc người này có những nét biến thiên rất đặc biệt, nó vận động từ nội tại của chính ngã và thai nghén nên nhiều thể loại văn học dân gian mới, làm giàu và phong phú cho kho tàng folklore dân tộc mình. Truyện thơ Tiếng hát làm dâu là một tuyệt tác văn học dân gian của người Mông. Truyện thơ này là tiếng lòng của người dân với những cung bậc cảm xúc và tâm trạng hướng đến nội dung phản ánh, hình thức phản ánh trong mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa người Mông với nhau và với người dân tộc khác. Tiếng hát làm dâu không chỉ đơn thuần là một truyện kể, mà nó được coi là pho sách thể hiện vốn văn hóa dân gian đặc trưng từ những ảnh hưởng của phong cách trữ tình có trong một thể loại văn học dân gian ra đời sớm hơn – dân ca trữ tình. Tìm hiểu sự hình thành truyện thơ Tiếng hát làm dâu và sự ảnh hưởng của dân ca Mông trong truyện thơ này cũng là một cách thức tiếp cận với văn hoá dân tộc thiểu số mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp. Nó vừa giúp cho người đọc tìm thấy những giá trị bản sắc văn hoá người Mông lại vừa có thể phân tích và tìm hiểu nó qua một loại hình nghệ thuật đặc trưng- không gian văn hoá có trong đời sống văn học, tức là có thêm một cách tiệm cận mới với yếu tố văn hoá từ một bộ môn nghệ thuật trung gian. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề như vậy, qua luận văn này, chúng tôi đi đến quyết định tìm hiểu về sự ảnh hưởng của dân ca dân gian Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu như một cách thức để tìm hiểu vốn văn học dân gian phong phú của dân tộc Mông. Chúng tôi chọn Tiếng hát làm dâu, chọn thể loại truyện thơ 2

8쪽

và thực thể so sánh là dân ca bởi đây là tác phẩm thể hiện khá sâu sắc về văn hoá dân gian cùng những đặc trưng tiêu biểu trên phương diện thi pháp truyện thơ và thi pháp ca dao, dân ca. Chúng tôi xác định những nhiệm vụ cụ thể khi thực hiện đề tài này là: 1.1. Tìm hiểu về truyện thơ và cơ sở của mối quan hệ giữa dân ca Mông và truyện thơ Tiếng hát làm dâu. 1.2. Tìm hiểu sự tiếp nhận nội dung thẩm mĩ dân ca Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu. 1.3. Tìm hiểu về sự chuyển hóa các yếu tố thi pháp dân ca Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Đối với vấn đề tìm hiểu sự hình thành của truyện thơ Tiếng hát làm dâu, từ khi truyện thơ này được tác giả Doãn Thanh công bố cùng tuyển tập dân ca Mông, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về tác phẩm truyện thơ này, cũng như nhiều tác phẩm truyện thơ hoặc các thể loại văn học dân gian khác của người Mông. Chỉ duy nhất có một bài viết của tác giả Phan Nhật có đưa ra những vấn đề khái quát trong nhận định của tác giả về sự hình thành của truyện thơ Tiếng hát làm dâu từ dân ca Tiếng hát làm dâu và dân ca Tiếng hát tình yêu. Bài viết này có tên là Tìm hiểu quá trình hình thành của truyện thơ Tiếng hát làm dâu, lần đầu tiên công bố năm 1972 trong tạp chí văn học số 3. Trong bài viết với dung lượng 11 trang, từ trang 62 đến trang 73, tác giả Phan Nhật đã đưa ra những nhận định của mình về sự hình thành truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Ông kết luận rằng: quá trình hình thành truyện thơ Tiếng hát làm dâu là một quá trình “tiếp thu dân ca Tiếng hát làm dâu, là một sự tiếp thu có lựa chọn, nâng cao, hệ thống hóa, một quá trình chuyển hóa từ khái quát đến cụ thể, từ phiếm chỉ đến cá thể hóa, từ rời rạc đến hệ thống. Đó là quá trình từ trữ tình đến tự sự, hay nói đúng hơn là quá trình tự sự hóa dân ca trữ tình.” [18, tr. 67 - 68]. Tác giả Phan Nhật cũng tổng kết lại 6 kiểu kết cấu cơ bản của nội dung dân ca Tiếng hát làm dâu cùng khái lược kết cấu của truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Ông cho rằng các yếu tố tự sự đã có ngay từ kiểu 3,4,5,6 trong dân ca Tiếng hát làm dâu. Bên cạnh đó các tình tiết của truyện thơ thường giống trong dân ca, cả dân ca Tiếng 3

9쪽

hát tình yêu và dân ca Tiếng hát làm dâu, tuy nhiên được tác giả dân gian kể lại chi tiết và cụ thể hơn rất nhiều. Tác giả Phan Nhật cũng khẳng định sự kế thừa các yếu tố nội dung và thi pháp từ dân ca trong quá trình hình thành truyện thơ Tiếng hát làm dâu là một quá trình tất yếu dựa trên nền tảng nội sinh của chính nền văn học. Tuy nhiên phần này Phan Nhật mới chỉ dừng lại ở những nhận định mang tính chất khái quát mà chưa đi sâu vào cụ thể, phân tích và khảo sát toàn diện. Trong bài viết, tác giả Phan Nhật cũng có đề cập đến phương thức sáng tác và lưu truyền cũng như một vài nhận xét đánh giá của ông với truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Những nhận xét đó là những trăn trở của ông về mảng nghiên cứu, tìm hiểu truyện thơ Tiếng hát làm dâu nói riêng và toàn bộ văn học dân gian Mông nói chung còn là một khoảng trống, còn nhiều câu hỏi cần được giải đáp trong những công trình nghiên cứu tiếp theo. Tuy có giá trị đặt nền tảng cho một vấn đề nghiên cứu khoa học rất có giá trị về truyện thơ Tiếng hát làm dâu cũng như văn học dân gian Mông, cùng sự hình thành của nó, song, tác giả Phan Nhật mới chỉ dừng lại ở bài viết này, vấn đề nghiên cứu mà ông đưa ra cho đến nay vẫn chưa có một nhà nghiên cứu văn học dân gian nào tiếp bước. Đó là một thiệt thòi đối với văn học dân gian Mông so với các nền văn học khác. 3. Đối tƣợng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứƣ: Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của dân ca dân tộc Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Đôí tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của luận văn là sự ảnh hưởng của dân ca dân tộc Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Phạm vi nghiên cứu: Dân ca dân tộc Mông, truyện thơ Tiếng hát làm dâu và truyện thơ dân tộc Mông. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài đã được xác định ở trên, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu địa lí- lịch sử: Chúng tôi sử dụng phương pháp địa lí lịch sử để tiến hành nghiên cứu những yếu tố quy định bản sắc văn hóa đặc trưng của người Mông cũng như tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phong phú, 4

10쪽

đa dạng trong văn hoá tinh thần của đồng bào từ đó làm cơ sở để xác định những yếu tố dân ca Mông ảnh hưởng đến sự hình thành, vận động, phát triển của truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để hệ thống các bài dân ca và các dẫn chứng có trong các bài dân ca dân tộc Mông, một trong những nguồn tư liệu quý giá để tiến hành nghiên cứu và chứng thực cho vấn đề nghiên cứu. Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng hai tiểu loại so sánh là so sánh tương đồng và so sánh dị biệt. So sánh những nét tương đồng của yếu tố văn hoá dân gian có trong thực tế và trong tác phẩm, so sánh dị biệt của những yếu tố đó được thể hiện trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu như thế nào và nó có dụng ý nghệ thuật gì, có tác dụng gì trong bước chuyển biến của nội tại tác phẩm. 5. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được triển khai theo ba chương: Chương 1: Truyện thơ và cơ sở của mối quan hệ giữa dân ca dân tộc Mông và truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Chương 2: Sự tiếp nhận nội dung thẩm mĩ dân ca dân tộc Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Chương 3: Sự chuyển hóa các yếu tố thi pháp dân ca dân tộc Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Cuối cùng là phần tài liệu tham khảo và phụ lục. 5

11쪽

NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TRUYỆN THƠ VÀ CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CA DÂN TỘC MÔNG VÀ TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU 1.1. Khái niệm truyện thơ và sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian 1.1.1. Khái niệm truyện thơ Văn học dân gian là một loại hình văn học có thể được coi là thủy tổ của các nền văn học trên tất cả các quốc gia trên thế giới. Văn học dân gian với những đặc trưng của nó như tính tập thể, tính truyền miệng, tính thống nhất hữu cơ của các thành phần ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau, cùng với sự tồn tại về hình thức sinh hoạt nghệ thuật gắn liền với cuộc sống lao động của nhân dân… đã đi sâu vào thế giới tinh thần của đông đảo cộng đồng. Văn học dân gian Việt Nam cũng vậy. Ra đời từ khi xã hội còn sơ khai, ngay từ khi có sự xuất hiện của con người trong xã hội công xã nguyên thủy, văn học dân gian Việt Nam đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân lao động. Văn học dân gian Việt Nam là người bạn đồng hành của quần chúng nhân dân trên đồng ruộng, trên đồi nương, trên những dòng sông bao la đỏ nặng phù sa… Văn học dân gian Việt Nam cùng với mười hai loại hình của nó đã trở thành chứng nhân của lịch sử, góp phần không nhỏ trong việc bộc lộ thế giới quan cũng như bộc lộ tâm hồn, bộc lộ những khát vọng cháy bỏng của nhân dân lao động. Văn học dân gian Việt Nam ra đời từ khi dân tộc ta còn chưa có chữ viết. Vì vậy, hình thức lưu truyền chủ yếu để bảo tồn được mảng nghệ thuật ngôn từ này là hình thức truyền miệng cùng với hình thức diễn xướng. Chính vì vậy, hiện nay chưa thể khẳng định được chúng ta đã tìm và phân loại một cách đầy đủ, chính xác văn học dân gian. Nhìn chung, với công sức nghiên cứu nhiều năm của nhiều thế hệ đồng thời dựa vào đặc trưng của từng vùng miền, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã tạm chia nền văn học khởi nguyên này thành mười hai loại hình. Mỗi một loại hình có những chức năng, đặc trưng và khoảng thời gian xuất hiện khác nhau. 6

12쪽

Trong mười hai loại hình của folklore, truyện thơ là một trong những loại hình kế thừa nhiều đặc trưng của các loại hình khác. Khái niệm truyện thơ trong SGK Ngữ Văn lớp mười – một tài liệu chính thống được chọn lọc giảng dạy- được định nghĩa là tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình, phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt [1, tr.18]. Như vậy có thể khẳng định hai yếu tố cấu thành nên truyện thơ là yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình. Yếu tố tự sự làm nên cốt truyện cho truyện thơ, làm nên tình tiết và hành động của các nhân vật, còn yếu tố trữ tình là hình thức nghệ thuật được chọn lọc, được thể hiện thay thế các cách kể đơn thuần khác. Về mảng đề tài của truyện thơ theo cách hiểu trên thì truyện thơ chủ yếu khai thác trên hai lĩnh vực số phận và khát vọng của con người trong xã hội đã có bước tiến mới. Xã hội có sự phân chia giai cấp rõ rệt chứ không còn tồn tại dưới hình thái xã hội công xã nguyên thủy. 1.1.2. Các nhóm truyện thơ tiêu biểu Truyện thơ là một loại hình văn học dân gian ra đời sau các loại hình văn học khác, như đã nói ở trên, loại hình văn học này ra đời khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp, tầng lớp rõ rệt, thậm chí có thể ra đời khi sự mâu thuẫn của các giai cấp xã hội không được giải quyết. Tất nhiên, đã là một loại hình văn học dân gian, thì tự thân truyện thơ đã bao chứa trong nó nhiều mảng đề tài khác nhau, nhiều hình thức diễn xướng khác nhau, nhiều nét văn hóa của các vùng miền khác nhau. Vì thế, việc phân loại truyện thơ cũng dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau tạo nên các nhóm truyện thơ tiêu biểu. 1.1.2.1. Phân loại truyện thơ dựa trên tiêu chí không gian địa lí và không gian văn hóa cộng đồng Với tiêu chí phân loại truyện thơ là dựa vào không gian địa lí và không gian văn hóa cộng đồng, các tác giả nghiên cứu văn học dân gian cho rằng, truyện thơ là thể loại văn học được ưa chuộng của các đồng bào dân tộc thiểu số. Xét về quá trình nghiên cứu truyện thơ, có thể thấy rằng các dân tộc thiểu số là tác giả của những tập truyện thơ đồ sộ, có nhiều ảnh hưởng trong nền văn học Việt Nam. Đại gia đình các dân tộc Việt Nam theo các tài liệu chính thống có khoảng 54 dân tộc anh em, còn theo các tài liệu nghiên cứu hiện nay có khoảng hơn 60 dân tộc anh em, như vậy 7

13쪽

khối lượng truyện thơ dân gian chưa được khai thác, tìm hiểu còn rất nhiều. Bên cạnh một vài dân tộc đã có công bố về truyện thơ thì hầu hết còn lại là một ẩn số, đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần đào sâu tìm tòi hơn nữa. Đối với dân tộc Việt- dân tộc chiếm đa số cán cân dân số nước ta- hiện nay chỉ tìm thấy truyện thơ Nôm có tác giả, xuất hiện trong khoảng thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, chứ chưa tìm thấy một tác phẩm truyện thơ dân gian hoàn chỉnh nào. Vì những điểm hạn chế như vậy, cho nên nếu phân chia truyện thơ theo tiêu chí này, chúng ta chỉ có thể có những kết quả tương đối với những dân tộc đã công bố những tác phẩm truyện thơ dân gian được tìm thấy. Trong tác phẩm nghiên cứu Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 21 của NXB Khoa học Xã hội năm 2008 do GS.TS Nguyễn Xuân Kính chủ biên [12, tr.15 -81] đã điểm lại việc sưu tầm, công bố truyện thơ các dân tộc thiểu số theo từng dân tộc đã cho thấy từ năm 1957 đến 2008 đã có truyện thơ của tám dân tộc được sưu tầm, công bố và xuất bản. Đó là truyện thơ của tám nhóm dân tộc sau: - Nhóm truyện thơ dân tộc Tày. - Nhóm truyện thơ dân tộc Thái. - Nhóm truyện thơ dân tộc Mường. - Nhóm truyện thơ dân tộc H’Mông. - Nhóm truyện thơ dân tộc Chăm - Nhóm truyện thơ dân tộc Ba Na. - Nhóm truyện thơ dân tộc Giáy. - Nhóm truyện thơ dân tộc Sán Chay. 1.1.2.2. Phân loại truyện thơ dựa trên tiêu chí phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa Với tiêu chí phân loại truyện thơ dựa trên căn cứ phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa, tác giả Võ Quang Nhơn trong Văn học dân gian Việt Nam do tác giả Đinh Gia Khánh chủ biên [9,tr.783] đã phân loại truyện thơ dân gian thành bốn nhóm cơ bản: - Nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt nghi lễ dân gian. - Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian các dân tộc. - Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian các dân tộc. 8

14쪽

- Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của truyện Nôm Việt. 1.1.2.3. Phân loại truyện thơ theo đề tài, chủ đề, tư tưởng và mô-típ văn học Với tiêu chí phân loại truyện thơ như trên, tác giả Phan Đăng Nhật, năm 2004 có bài Truyện thơ, in trong cuốn sách Truyện thơ Tày nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của Vũ Anh Tuấn [34] đã chia truyện thơ thành ba nhóm tiêu biểu: - Truyện thơ về tình yêu. - Truyện thơ về người nghèo khổ. - Truyện thơ về chính nghĩa. 1.1.3. Sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian Việt Nam 1.1.3.1. Sự hình thành thể loại truyện thơ dựa trên nguồn gốc nội sinh trong quá trình phát triển văn hóa tộc người [34] Trở lại với định nghĩa truyện thơ, chúng ta thấy rằng truyện thơ là một thể loại tự sự dân gian bằng thơ, truyện thơ rất giàu chất trữ tình, tác dụng của nó là dùng để phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và công bằng xã hội bị tước đoạt. Như vậy, về bản chất truyện thơ là một loại hình văn học dân gian, đặc trưng cốt yếu nhất của truyện thơ là yếu tố tự sự. Về điểm này, truyện thơ có sự kế thừa yếu tố tự sự trong các loại hình văn học dân gian khác như: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cười… Tuy nhiên yếu tố tự sự trong truyện thơ lại được kể ở một hình thức đặc biệt, kể bằng thơ chứ không phải văn xuôi. Điều đó cho thấy truyện thơ đã kế thừa yếu tố trữ tình trong các thể loại ca dao, dân ca, hò, vè, tục ngữ, câu đố...đặc biệt là trong ca dao, dân ca và lựa chọn nó trở thành hình thức nghệ thuật biểu hiện mục tiêu nghệ thuật. Đó là xét về mặt nghệ thuật biểu hiện, còn nếu xét về mặt giá trị nội dung, chúng ta thấy rằng truyện thơ có mục đích phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và công bằng xã hội bị tước đoạt. Điều đó chứng tỏ, truyện thơ ra đời khi con người không còn sinh hoạt dưới hình thái ý thức xã hội của mô hình công xã nguyên thủy. Con người không còn dùng văn học dân gian như một hình thức nghệ thuật để lí giải những hiện tượng tâm linh hay những hiện tượng thiên nhiên thường gặp trong thần thoại, truyền thuyết. Con người cũng 9

앞 14페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!