1쪽
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Ngân sách nhà nước (NSNN) nói chung và Ngân sách địa phương (NSĐP) nói riêng giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ hoạt động kinh tế- xã hội, an ninh- trật tự và sự phát triển về mọi mặt của một địa phương. Nó kích thích, điều chỉnh và định hướng sự phát triển kinh tế- xã hội, định hướng tăng trưởng sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, điều tiết thị trường, bình ổn giá cải và điều tiết thu nhập của các tầng lớp nhân dân trên phạm vi của địa phương. Chi NSĐP là một phần của chu trình NSNN tại địa phương, là công cụ quan trọng của chính quyền địa phương trong việc quản lý nhà nước trên địa bàn, bao gồm: duy trì bộ máy chính quyền và phục vụ thực hiện các chức năng của chính quyền địa phương, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội và thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương, đồng thời thông qua công cụ chi NSNN thực hiện sử dụng và phân phối thu nhập đã tập trung được, nhờ đó đảm bảo an sinh xã hội và tạo nguồn vốn cho tái sản xuất mở rộng tại địa phương. Với nguồn thu hạn hẹp, để đảm bảo thực hiện tố vai trò của mình thì chi NSĐP cần được thực hiện một cách có kế hoạch, đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm. Nhìn chung trong những năm qua, việc chi ngân sách của phòng TC- KH huyện Nga Sơn đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế tồn tại nhất định từ khâu lập dự toán, chấp hành và quyết toán NSĐP như: việc chi Ngân sách để hỗ trợ phát triển kinh tế của huyện còn dàn trải, chưa thật sự hiệu quả, nguồn kinh phí chưa đáp ứng được kịp thời dẫn đến việc phải vay vốn để đầu tư trước hoặc phải để lại dự toán năm sau; chi thường xuyên không đáp ứng được nhu cầu chi của các đơn vị, do nguồn kinh phí hạn hẹp và bộ máy của các đơn vị còn cồng kềnh; … Mai Quốc Hữu- TCNH K12 1
2쪽
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Qua thời gian nghiên cứu số liệu thực tiễn về chi NSĐP trên địa bàn huyện của phòng TC- KH huyện Nga Sơn, nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề chi NSĐP và mong muốn góp phần hoàn thiện công tác chi NSĐP trên địa bàn huyện Nga Sơn, em xin được chọn đề tài : “Chi Ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Nga Sơn- Thực trạng và giải pháp “ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về chi NSNN và chi NSĐP + Phân tích thực trạng chi NSĐP trên địa bàn huyện Nga Sơn giai đoạn 2010- 2012 + Đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác chi NSĐP trên địa bàn huyện Nga Sơn 3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: chi NSĐP trên địa bàn huyện Nga Sơn - Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn huyện Nga Sơn trong giai đoạn 2010- 2012 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, thống kê, chuyên gia, so sánh, tổng hợp, ... từ tình hình và số liệu thực tiễn về chi NSĐP trên địa bàn huyện Nga Sơn, qua đó phân tích, đánh giá đúng đắn, xác thực, hợp lý và có căn cứ. Cụ thể: - Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, giáo viên bộ môn, và của các cán bộ công nhân viên của phòng TC- KH huyện Nga Sơn; - Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu về chi NSĐP trên địa bàn huyện Nga Sơn giai đoạn 2010- 2012; Mai Quốc Hữu- TCNH K12 2
3쪽
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Phương pháp thống kê, tổng hợp: lựa chọn, sắp xếp, tính toán, tổng hợp các số liệu đã thu thập được; - Phương pháp so sánh: so sánh tuyệt đối, tương đối về kết cấu của chi NSĐP, số chi NSĐP các năm. 5. Kết cấu của báo cáo thực tập tốt nghiệp: Ngoài phần mở đầu và kết luận kết cấu của báo cáo thực tập tốt nghiệp bao gồm những nội dung chính như sau : Chƣơng 1: Lý luận chung về chi Ngân sách địa phƣơng Chƣơng 2: Thực trạng chi Ngân sách địa phƣơng trên địa bàn huyện Nga Sơn giai đoạn 2010- 2012 Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác chi Ngấn sách địa phƣơng trên địa bàn huyện Nga Sơn Mai Quốc Hữu- TCNH K12 3
4쪽
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG 1.1 Khái quát về Ngân sách nhà nƣớc 1.1.1. Khái niệm Ngân sách nhà nước Có một số quan niệm về ngân sách nhà nước như sau : - Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. - Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước. - Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2, năm 2012 đã nêu ra : “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. 1.1.2. Bản chất của Ngân sách nhà nước NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Nó bao gồm những quan hệ tài chính quốc gia, cụ thể: - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với hộ gia đình, cá nhân: được thể hiện thông qua phân phối lại giữa ngân sách Nhà nước với ngân sách của cá nhân và hộ gia đình. Một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước băng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí; một bộ phận khác lại nhận từ ngân sách Nhà nước các khoản trợ cấp theo chính sách. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với doanh nghiệp: các quan hệ này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của quỹ Ngân sách bằng hình thức thuế của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Mai Quốc Hữu- TCNH K12 4
5쪽
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với tổ chức xã hội: quan hệ này phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước theo dự toán kinh tế; đồng thời các đơn vị sự nghiệp có thu sử dung một phần nguồn thu để trang trải các khỏa chi tiêu của mình và một phần làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với quốc tế: quan hệ này nảy sinh giữa nhà nước với các tổ chức, công dân nước ngoài; các nhà nước khác và các tổ chức quốc tế. Nó gắn liền với dòng lưu chuyển tiền vốn vào quốc gia thông qua các quan hệ, hoạt động tài chính quốc tế như đầu tư, vay nợ, …. Có thể nói bản chất kinh tế của NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. Qua việc xem xét bản chất NSNN có thể đi đến kết luận: Bản chất kinh tế của NSNN là quan hệ kinh tế - tài chính giữa một bên là Nhà nước và bên kia là các tác nhân của nền kinh tế hàng hóa trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế, phân phối và phân phối lại thu nhập do các cá nhân kinh tế mới sang tạo ra. Bản chất kinh tế không tách rời bản chất chính trị của NSNN. Bản chất chính trị của NSNN gắn liền với bản chất của giai cấp cầm quyền, do nhà nước đó sinh ra, vì nhà nước đó mà tồn tại và phát triển. Bản chất chính trị của NSNN giải thích lý do ra đời, điều kiện tồn tại, mục tiêu và sứ mạng mà NSNN phụng sự là lợi ích của Nhà nước, của giai cấp cầm quyền. 1.1.3. Chức năng của Ngân sách nhà nước. Chức năng đầu tiên của ngân sách nhà nước là chức năng phân phối. Bất kỳ một nhà nước nào, muốn tồn tại và duy trì được chức năng của mình, trước hết phải có các nguồn lực tài chính. Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý nhà nước, cho lực lượng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tư phát triển…Nhưng muốn tạo lập được ngân sách Mai Quốc Hữu- TCNH K12 5
6쪽
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP nhà nước, trước hết phải tập hợp các khoản thu theo luận định, cân đối chi tiêu theo tiêu chuẩn, định mức đúng với chính sách hiện hành. Đó chính là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch của nhà nước, thực hiện cân đối thu, chi bằng tiền của nhà nước. Chức năng thứ hai của ngân sách nhà nước là chức năng giám đốc quy trình huy động các khoản thu và thực hiện các khoản chi. Thông qua chức năng này, ngân sách nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, hoặc bị lạm dụng làm trái luật, coi thường pháp luật và các chính sách động viên khác. Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và quy định chi. Đồng thời, thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước giúp ta giám sát việc chấp hánh các quy định, chính sách của nhà nước. Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của ngân sách nhà nước, hiệu quả của chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và nhà nước đề ra. Như vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong tạo lập và sử dụng Ngân sách nhà nước. 1.1.4. Hệ thống Ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước Hệ thống NSNN được hiểu là tổng các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách. Ở nước ta, tổ chức NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đất nước. Theo hiến pháp, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho chính quyền đó thực hiện chức năng Mai Quốc Hữu- TCNH K12 6
앞 6페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.
댓글 (0)
댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!