Hệ thống câu hỏi học phần các học thuyết kinh tế

THThiNganHang
다운로드 0회
40
0

자료 내용

1쪽

HỆ THỐNG CÂU HỎI HỌC PHẦN CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ Câu 1: Tại sao W.Petty cho rằng: Giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời. Trả lời. W.Petty có công lao to lớn trong việc nêu ra lí luận về giá trị lao động. Ông đã đưa ra các phạm trù về giá cả hàng hoá. Gồm giá cả tự nhiên và giá cả chính trị. Tuy vậy lí thuyết giá trị lao động của ông còn nhiều hạn chế, chưa phân biệt được các phạm trù giá trị giá cả và giá trị ... ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lượng. Ông chỉ giới hạn lao động tạo ra giá trị phụ thuộc lao động khai thác vàng và bạc. Ông so sánh giá lao động khai thác vàng và bạc với lao động khác, lao động khác chỉ tạo nên của cải ở mức độ so sánh với lao động tạo ra tiền. Như vậy W.Petty cho rằng lao động tạo ra tiền mới là lao động tạo ra giá trị nên giá trị hàng hoá phụ thuộc vào giá trị của tiền, giá trị hàng hoá là sự phản ánh giá trị của tiền tệ " như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời " ông đã không thấy được rằng tiền đo làm thời gian tách làm hai, một bên là hàng hoá thông thường, một bên là tiễn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị. * " lao động là cha còn đất đai là mẹ của của cải" đây là luận điểm nổi tiếng trong lí thuyết giá trị lao động của ông . - Xét về mặt của cải (giá trị sử dụng) thì ông đã nêu lên được nguồn gốc của cải. Đó là lao động của con người. Kết hợp với yếu tố tự nhiên. Điều này phản ánh TLSX để tạo ra của cải - Xét về phương diện giá trị thì luận điểm trên là sai. Chính Petty cho rằng giá trị thời gian lao động hao phí quy định nhưng sau đó lại cho rằng 2 yếu tố xác định giá trị đó là lao động và tự nhiên. Ông đã nhầm lẫn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động tư cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng. Ông chưa phát hiện được tính hai mặt của hoạt động sản xuất hàng hoá đó là lao động cụ thể sản xuất lao động trừu tượng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trìu tượng tạo ra giá trị. 1 ThiNganHang.com

2쪽

Câu 2: W. Petty là nhà kinh tế học phản ánh bước quá độ từ chủ nghĩa trọng thương sang kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Trả lời. - W.Petty là người đầu tiên nêu ra nguyên lí về giá trị - lao động. Ông đưa ra 3 phạm trù về giá cả hàng hoá: + Giá cả tự nhiên, là giá trị hàng hoá. Nó do lao động của người sản xuất tạo ra. Lượng của nó tỉ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác bạc; Ví dụ: Một người nào đó, trong thời gian lao động khai thác được 1 ounce bạc và cùng thời gian đó sản xuất được 1 Barrel lúa mỳ, thì 1 ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 Barrel lúa mỳ. Nếu nhờ những mỏ mới giầu quặng hơn, nên cùng một thời gian như trước, bây giờ khai thác được 2 ounce bạc, thì 2 ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 Barrel lúa mỳ; + Giá cả nhân tạo, là giá cả thị trường của hàng hóa. Ông viết: "tỷ lệ giữa lúa mỳ và bạc chỉ là giá cả nhân tạo chứ không phải là giá cả tự nhiên", giá cả nhân tạo phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và cung cầu hàng hóa trên thị trường; + Giá cả chính trị: là một loại đặc biệt của Giá cả tự nhiên. Nó cũng là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá nhưng trong điều kiện chính trị không thuận lợi. Vì vậy chi phí lao động trong giá cả chính trị thường > Chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thường; + Ông đặt vấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và lao động phức tạp nhưng không thành; - Mặc dù các quan điểm của William Petty còn chưa thống nhất đang chuyển dần từ chủ nghĩa trọng thương sang kinh tế cổ điển, nhưng ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng các nguyên lý kinh tế cổ điển sau này - Là người đầu tiên nhấn mạnh tính khách quan của những quy luật tác động trong xã hội tư bản Câu 3: Vì sao nói: W.Petty là người đặt nền móng cho lý thuyết giá trị - lao động. Trả lời. - W.Petty là người đầu tiên nêu ra nguyên lí về giá trị - lao động. Ông đưa ra 3 phạm trù về giá cả hàng hoá: + Giá cả tự nhiên, là giá trị hàng hoá. Nó do lao động của người sản xuất tạo ra. Lượng của nó tỉ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác bạc; 2 ThiNganHang.com

3쪽

Ví dụ: Một người nào đó, trong thời gian lao động khai thác được 1 ounce bạc và cùng thời gian đó sản xuất được 1 Barrel lúa mỳ, thì 1 ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 Barrel lúa mỳ. Nếu nhờ những mỏ mới giầu quặng hơn, nên cùng một thời gian như trước, bây giờ khai thác được 2 ounce bạc, thì 2 ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 Barrel lúa mỳ; + Giá cả nhân tạo, là giá cả thị trường của hàng hóa. Ông viết: "tỷ lệ giữa lúa mỳ và bạc chỉ là giá cả nhân tạo chứ không phải là giá cả tự nhiên", giá cả nhân tạo phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và cung cầu hàng hóa trên thị trường; + Giá cả chính trị: là một loại đặc biệt của Giá cả tự nhiên. Nó cũng là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá nhưng trong điều kiện chính trị không thuận lợi. Vì vậy chi phí lao động trong giá cả chính trị thường > Chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thường; Hạn chế: Chịu ảnh hưởng của tư tưởng CNTT + Ông coi lao động khai thác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị của các hàng hóa khác chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổi với bạc; + Ông cho rằng lao động và đất đai là nguồn gốc của giá trị. Điều này là mầm mống của lý thuyết các nhân tố sản xuất tạo ra giá trị sau này. Đến Ađam Smit theo ông công thức giá trị hàng hóa G = v + m không có (c): Tư bản bất biến trong cấu thành giá trị hàng hoá). Tức ông đã lẫn lộn 2 vấn đề; hình thành giá trị và phân phối giá trị Đến Đ.Ricacdo G = c + v + m Ông tiến bộ hơn AđamSmit là đã cộng (C1) vào giá trị sản phẩm nhưng chưa phân tích được sự chuyển dịch (C1) vào sản phẩm mới diễn ra như thế nào; Đến Mark thì mới hoàn thiện Như vậy. W. Petty đã đặt nền móng cho hàng hoá giá trị. Từ những lí luận của ông , các nhà kinh tế học đã kế thừa và phát triển lí luận đó và khi được hoàn thiện bởi Mark. đây là công lao to lớn của ông. Câu 4: Vì sao nói: Ad. Smith là nhà lí luận giá trị lao động song lí luận giá trị - lao động của ông vẫn chưa được nhiều và còn sai lầm. 3 ThiNganHang.com

4쪽

Trả lời. Lí luận giá trị - lao động So với W.Petty và phái trọng nông, lí thuyết giá trị lao động của Ađam Smit có bước tiến đáng kể - Ông chỉ ra: tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị: + Lao động là thước đo cuối cùng của giá trị; + Phân biệt giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi; - Ông bác bỏ lí luận về sự ích lợi, sự ích lợi không có quan hệ đến giá trị trao đổi. Ví dụ: “Không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó thì không thể mua được gì” - Lượng giá trị hàng hóa là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định; Hạn chế + Nếu ở định nghĩa thứ nhất, ông khẳng định giá trị là do lao động hao phí để sản xuất hàng hoá quyết định. Lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị chứng tỏ ông đã đứng vững trên cơ sở lí thuyết giá trị - lao động; + Nhưng ở định nghĩa thứ hai, ông cho rằng: giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá quyết định Suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn. Còn trong nền kinh tế TBCN, giá trị hàng hóa do các nguồn thu nhập tạo thành: tiền lương (V) + lợi nhuận (P) + địa tô (R); Ông viết: “Tiền lương, lợi nhuận, địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như là của bất kì giá trị trao đổi nào”; Vì vậy trong công thức giá trị hàng hóa G = v + m không có (c): Tư bản bất biến trong cấu thành giá trị hàng hoá). Tức ông đã lẫn lộn 2 vấn đề; hình thành giá trị và phân phối giá trị; 4 ThiNganHang.com

앞 4페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!