[Báo cáo] Đánh giá một năm thực hiện Hiệp định EVFTA: Tác động đến kinh tế Việt Nam và sự thay đổi chính sách - TG.Nguyễn Đức Thành, Phạm Văn

UN
Uni24h
다운로드 0회
79
0

자료 내용

1쪽

Nguyễn Đức Thành, Phạm Văn Long, Phan Nhật Quang, Đỗ Thị Lê BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ MỘT NĂM THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH EVFTA TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ SỰ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH Hà Nội, 2021

2쪽

` ĐÁNH GIÁ MỘT NĂM THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU (EVFTA) TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ SỰ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH HÀ NỘI, 12/2021

3쪽

ĐƠN VỊ THỰC HIỆN VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH (VEPR) trực thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặt trụ sở chính tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội. Mục tiêu của VEPR là thực hiện các nghiên cứu kinh tế và chính sách nhằm giúp nâng cao chất lượng ra quyết định của các cơ quan hoạch định chính sách, doanh nghiệp và các nhóm lợi ích, dựa trên sự thấu hiểu bản chất của những vận động kinh tế và quá trình điều hành chính sách vĩ mô ở Việt Nam. Hoạt động chính của VEPR bao gồm phân tích định lượng và định tính các vấn đề của nền kinh tế Việt Nam và tác động của chúng tới các nhóm lợi ích; tổ chức các hội thảo đối thoại chính sách với mục đích tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp và tổ chức xã hội cùng gặp gỡ, trao đổi nhằm đề xuất giải pháp cho các vấn đề chính sách quan trọng hiện hành; đồng thời, tổ chức các khoá đào tạo cấp cao về kinh tế, tài chính và phân tích chính sách. i

4쪽

NHÓM TÁC GIẢ TS. Nguyễn Đức Thành (Trưởng nhóm nghiên cứu): Nhận bằng Tiến sỹ Kinh tế Phát triển tại Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRIPS); Chuyên gia về kinh tế vĩ mô; nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR). Ths. Phạm Văn Long: Nhận bằng Thạc sĩ Chính sách công tại Đại học Fulbright Việt Nam; Nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược (VESS); Cộng tác viên nghiên cứu của VEPR. Phan Nhật Quang: Nhận bằng Cử nhân Kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược (VESS); Cộng tác viên nghiên cứu của VEPR. Đỗ Thị Lê: Nhận bằng Cử nhân Kinh tế quốc tế tại Học viện Ngoại giao Việt Nam; Cộng tác viên nghiên cứu của VEPR. ii

5쪽

LỜI CẢM ƠN Báo cáo “Đánh giá một năm thực hiện hiêp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA): Tác động đến kinh tế Việt Nam và sự thay đổi chính sách”, do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) chủ trì, đã được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tổ chức. Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các chuyên gia, các nhà nghiên cứu độc lập đã tham gia tích cực vào quá trình phản biện và đóng góp ý kiến cho báo cáo, gồm: PGS.TS. Nguyễn Anh Thu, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR); PGS.TS. Phạm Thế Anh, Trưởng Bộ môn Kinh tế vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; PGS.TS. Đào Ngọc Tiến, Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Ngoại thương; TS. Lê Đăng Doanh, Chuyên gia Kinh tế cao cấp, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương; TS. Lê Quốc Phương, Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại thuộc Bộ Công thương; TS. Trần Toàn Thắng, Trưởng ban Dự báo kinh tế ngành và doanh nghiệp, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; TS. Vũ Thanh Hương, Phó trưởng khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN và ThS. Tống Thị Minh Phương, Giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN cùng nhiều chuyên gia khác vì những thảo luận chi tiết liên quan tới nội dung của báo cáo trong các buổi hội thảo và tham vấn chuyên gia. Chúng tôi cũng xin cảm ơn ông Jean-Jacques Bouflet, Phó chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam và TS. Sebastian Paust, Tham tán thứ nhất, Phụ trách bộ phận Hợp tác Phát triển, Đại sứ quán CHLB Đức tại Việt Nam vì những trao đổi góp ý hữu ích của họ trong buổi công bố Báo cáo tại Hà Nội vào ngày 3/11/2021. Chúng tôi tri ân sự hỗ trợ quý báu từ Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (KAS) tại Việt Nam, với tư cách là nhà tài trợ chính cho báo cáo này, đã có những đóng góp quan trọng trong suốt quá trình tổ chức thực hiện Dự án nghiên cứu. Đặc biệt, nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn Bà Phạm Thị Tố Hằng, Cán bộ quản lý chương trình của Viện KAS tại Việt Nam vì những hỗ trợ kịp thời và quý giá trong toàn bộ quá trình xây dựng báo cáo này. iii

6쪽

Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thành viên hỗ trợ hành chính của dự án, bao gồm chị Lê Thị Minh Hiền và chị Nguyễn Thị Thu Hương. Sự tận tâm, nhiệt tình, kiên nhẫn và chu đáo của họ là phần không thể thiếu trong việc giúp nhóm nghiên cứu hoàn thiện báo cáo. Do giới hạn về thời gian thực hiện, chúng tôi biết báo cáo có thể còn những hạn chế và cả những thiếu sót nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý vị độc giả để nhóm tác giả có cơ hội được học hỏi và hoàn thiện hơn trong những báo cáo hoặc nghiên cứu tiếp theo. Hà Nội, ngày 25/11/2021 Thay mặt nhóm tác giả TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH . iv

7쪽

MỤC LỤC ĐƠN VỊ THỰC HIỆN......................................................................................................................i NHÓM TÁC GIẢ ............................................................................................................................ii LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................................iii DANH MỤC HÌNH.......................................................................................................................vii DANH MỤC BẢNG .....................................................................................................................viii DANH MỤC HỘP..........................................................................................................................ix DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ..........................................................................................................x TÓM TẮT BÁO CÁO.....................................................................................................................1 CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU.............................................................................................................9 1.1. Bối cảnh hình thành nghiên cứu.............................................................................................9 1.2. Mục tiêu và phạm nghiên cứu ..............................................................................................10 1.3. Câu hỏi nghiên cứu...............................................................................................................10 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................................ 11 1.5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................... 11 CHƯƠNG II. TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) .........................................................................................................12 2.1. Bối cảnh ra đời của EVFTA .................................................................................................12 2.2. Nội dung chính của EVFTA.................................................................................................14 CHƯƠNG III. EVFTA VÀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM................................20 3.1. Nội dung về Đối xử quốc gia và Mở cửa thị trường hàng hóa.............................................20 3.2. Nội dung về Hải quan và Tạo thuận lợi thương mại ............................................................21 3.3. Nội dung về Mua sắm công..................................................................................................22 3.4. Nội dung về Minh bạch........................................................................................................22 3.5. Nội dung về Sở hữu trí tuệ ...................................................................................................23 3.6. Một số nội dung liên quan khác............................................................................................26 v

8쪽

CHƯƠNG IV. VIỆT NAM SAU 1 NĂM HIỆP ĐỊNH EVFTA CÓ HIỆU LỰC.....................27 4.1. Hoạt động thương mại và đầu tư Việt Nam – EU sau một năm EVFTA có hiệu lực...........27 4.1.1. Xuất khẩu của Việt Nam sang EU kể từ khi EVFTA có hiệu lực......................................27 4.1.2. Nhập khẩu hàng hóa từ EU kể từ khi EVFTA có hiệu lực ................................................34 4.1.3. Kết quả sử dụng chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi...........................................................37 4.1.4. Đầu tư trực tiếp từ EU kể từ khi EVFTA có hiệu lực........................................................38 4.2. Ước tính tác động của EVFTA đến giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.....................40 4.3. Một số thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập EVFTA.................................................46 CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH .............................................56 5.1. Kết luận ................................................................................................................................56 5.2. Khuyến nghị chính sách .......................................................................................................58 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................61 Phụ lục 1: Giá trị các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU trước và sau một năm tham gia EVFTA (triệu USD).................................................................................................................63 Phụ lục 2: Biểu thuế xuất khẩu một số loại hàng hóa trước và sau năm đầu tiên Việt Nam tham gia EVFTA (%) ....................................................................................................................65 vi

9쪽

DANH MỤC HÌNH Hình 1: GDP và tỉ lệ xuất khẩu trên GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2020 (ĐVT: tỷ USD, %) ............................................................................................................................................9 Hình 2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với các đối tác quan trọng, 2016-2020 (ĐVT: tỷ USD).28 Hình 3: Tỉ trọng kim ngạch nhập khẩu của EU với các đối tác chính, 2016-2020 (ĐVT: %) .......29 Hình 4: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao sang thị trường EU qua các năm (ĐVT: tỷ USD) ........................................................................................................................30 Hình 5: Thị phần của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU, 2020 (ĐVT: %).........................................................................................................................................31 Hình 6: Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước EU trong năm 2020 (ĐVT: tỷ USD, %)..32 Hình 7: Tổng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường EU (ĐVT: tỷ USD)..................33 Hình 8: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang EU tính từ tháng 08/2020 đến 08/2021 (ĐVT: tỷ USD) ................................................................................................................................34 Hình 9: Tổng kim ngạch nhập khẩu từ EU của Việt Nam sau khi EVFTA có hiệu lực (ĐVT: tỷ USD).35 Hình 10: Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng từ thị trường EU, 2016-2020 (ĐVT: triệu USD)....36 Hình 11: Tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam từ các nước EU trong năm 2020 (ĐVT: triệu USD, %)..37 Hình 12: Tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA của Việt Nam, 2015-2020 (ĐVT: %) ...................................38 Hình 13: Đầu tư từ các nước EU sang Việt Nam trước và sau khi EVFTA có hiệu lực (ĐVT: triệu USD)................................................................................................................................................39 Hình 14: Giá trị gia tăng nước ngoài so với giá trị gia tăng trong nước, 2019 (ĐVT:%) ..............47 Hình 15: Cơ cấu các biện pháp phi thuế quan tại Việt Nam, 2018.................................................48 Hình 16: Chỉ số thuế quan trị giá tương đương đối với SPS và TBT.............................................52 Hình 17: Kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN sang EU, 2016-2021 (ĐVT: triệu USD)...55 vii

10쪽

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Các mốc thời gian quan trọng trong việc đàm phán Hiệp định EVFTA...........................13 Bảng 2: Tổng hợp và tóm tắt nội dung các chương trong Hiệp định EVFTA................................14 Bảng 3: Đầu tư từ các nước EU sang Việt Nam từ ngày 01/08/2020 đến 01/08/2021 (ĐVT: triệu USD)................................................................................................................................................39 Bả ng 4: Giá trị ước lượng các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU từ 01/8/2020 - 31/7/2021 trong điều kiện bình thường (chưa loại bỏ thuế quan theo EVFTA và không có COVID-19)........42 Bảng 5: Giá trị ước lượng các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU từ 01/8/2020 – 31/7/2021 khi áp dụng biểu thuế mới theo EVFTA (trong điều kiện không có COVID-19) ...........................45 Bảng 6: Các vụ việc vi phạm SPS của Việt Nam, 2015-2021........................................................47 viii

11쪽

DANH MỤC HỘP Hộp 1: Một số nét chính trong các cam kết một số ngành dịch vụ.................................................17 Hộp 2: Các biện pháp SPS của EU đối với mặt hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản.....................49 Hộp 3: Các vấn đề về nguồn gốc xuất xứ.......................................................................................53 ix

12쪽

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CNTT Công nghệ thông tin C/O Chứng nhận xuất xứ COVID-19 Đại dịch do virus Corona gây ra năm 2019 CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương EU Liên minh Châu Âu EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu FTA Hiệp định Thương mại tự do GDP Tổng sản phẩm quốc nội IPA Hiệp định Bảo hộ đầu tư SPS Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch động-thực vật SHTT Sở hữu trí tuệ TBT Hàng rào kĩ thuật đối với Thương mại WTO Tổ chức Thương mại thế giới x

13쪽

TÓM TẮT BÁO CÁO Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) được ký kết trên tinh thần hợp tác toàn diện, cân bằng lợi ích giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU). Đây là một trong những FTA thế hệ mới kỳ vọng mang lại lợi ích chiến lược cho Việt Nam thông qua sự phát triển quan hệ thương mại-đầu tư với một trong những đối tác lớn nhất và quan trọng nhất của Việt Nam. EVFTA giúp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu ngay trong lòng EU Ngay sau khi EVFTA có hiệu lực vào ngày 01/8/2020, Chính phủ Việt Nam cùng với các Bộ, ngành liên quan đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn và kế hoạch thực hiện EVFTA. Sau một năm Hiệp định có hiệu lực, đã có 19 Bộ, ngành và 57 tỉnh thành phố trên cả nước ban hành kế hoạch thực hiện EVFTA. Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những điều chỉnh quan trọng ngay từ trước khi Hiệp định được ký kết, nhằm đáp ứng những yêu cầu của EVFTA, cho đến nay vẫn còn một số bất cập liên quan đến các luật chuyên ngành và vấn đề thực thi pháp luật. Trong đó đáng lưu ý nhất là những vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn môi trường do còn tồn tại nhiều khác biệt trong các quy định cũng như cách hiểu giữa hai bên. Ngoài ra, liên quan đến vấn đề về quyền lao động, phía EU cho rằng Việt Nam cần đảm bảo quyền tự do liên kết (theo Công ước số 87) và quyền thương lượng tập thể (theo Công ước số 98) của người lao động. Nhìn lại những gì Việt Nam đã thực hiện từ trước và sau một năm ký kết EVFTA, có thể nhận định là Việt Nam đang đi theo chiến lược “dễ làm trước, khó làm sau”. Vì thế, có thể dự báo trong thời gian tiếp theo, tốc độ thay đổi (cải cách) luật pháp ở Việt Nam sẽ chậm dần so với yêu cầu của EVFTA. Việc đánh giá tác động sau một năm thực hiện EVFTA lên nền kinh tế và hiệu quả thương mại của Việt Nam gặp trở ngại lớn do giai đoạn này trùng với sự bùng phát của dịch COVID-19, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực. Nhìn tổng thể, trong năm đầu tiên, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU chỉ tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, đạt 39,75 tỷ USD. Đặc biệt, kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chủ lực truyền thống của Việt Nam sang thị trường EU (từ trước khi khi EVFTA có hiệu lực) như điện thoại và linh kiện, hàng dệt may đều giảm, cho thấy hậu quả nặng nề của dịch COVID-19 (Hình T1). Tuy nhiên, việc tổng kim ngạch vẫn tăng, chứng tỏ đã xuất hiện hiệu ứng đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu có nhờ Hiệp định. Một số ngành được miễn gần như toàn bộ thuế suất nhập khẩu vào thị trường EU có mức tăng trưởng mạnh như các mặt hàng sắt và 1

14쪽

thép; các sản phẩm từ nhựa hoặc cao su. Riêng đối với mặt hàng sắt thép, ngoài việc hưởng lợi từ việc giảm thuế suất, với đặc thù giá sắt nguyên liệu tăng, dẫn tới giá thép thành phẩm tăng gần gấp đôi trong năm 2021, đã khiến cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng đột biến, góp phần bù đắp kim ngạch suy giảm do dịch COVID-19. Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù 0,96 0,64 Phương tiện vận tải và phụ tùng 0,77 0,79 0,16 Sắt thép các loại 0,91 1,0 Hàng thủy sản 0,93 Hàng dệt, may 3,52 2,98 Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác 2,4 3,34 Giày dép các loại 4,4 3,9 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 5,0 5,68 Điện thoại các loại và linh kiện 9,8 7,07 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Từ tháng 8/2019 -tháng 8/2020 Tứ tháng 8/2020 - tháng 8/2021 Hình T1. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực truyền thống sang EU trong 12 tháng đầu tiên thực hiện EVFTA từ tháng 08/2020 đến 08/2021 (ĐVT: tỷ USD) Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan 2

15쪽

Các nước còn lại, 3,69 Hà Lan, 7,00 Thụy Điển, 1,13 11% Xlôvakia, 1,17 3% 3% 20% Ba Lan, 1,78 5% Tây Ban Nha, 2,13 6% 19% 7% Đức, 6,64 Bỉ, 2,31 8% 9% 9% Áo, 2,88 Pháp, 3,30 Italia, 3,12 Hình T2. Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước EU trong năm 2020 (ĐVT: tỷ USD, %) Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Sự dịch chuyển của thị trường nhập khẩu Có một hiện tượng đáng lưu ý sau một năm ký EVFTA diễn ra trên thị trường nhập khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường các nước EU đạt 16,51 tỷ USD, tăng hơn 24% so với một năm trước khi EVFTA có hiệu lực. Tăng trưởng đột biến diễn ra trong lĩnh vực máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Các lĩnh vực khác không có thay đổi đột biến, ngoại trừ nhập khẩu dược phẩm tăng và máy móc thiết bị giảm (phù hợp với bối cảnh đại dịch). Nhìn chung, tăng trưởng nhập khẩu nhanh hơn xuất khẩu cho thấy dấu hiệu của sự thay đổi trong mô thức thương mại giữa Việt Nam và EU theo hướng giảm thặng dư thương mại. Thặng dư thương mại giảm không có nghĩa rằng Việt Nam đang gặp bất lợi trong quan hệ thương mại với EU. Với việc tăng cường nhập khẩu từ EU, với giả định nhu cầu trong nước chưa thay đổi quá nhiều trong thời gian ngắn, thì đây là bằng chứng cho thấy có sự chuyển hướng nhập khẩu khỏi các thị trường khác. Điều đó hàm ý rằng trước đây doanh nghiệp và người tiêu dùng phải nhập khẩu từ những thị trường có giá rẻ hơn (và do đó là chất lượng thấp hơn), nhờ việc giảm thuế nhập khẩu từ thị trường EU, đã chuyển sang nhập nhiều hang hóa từ EU với chất lượng cao hơn với mức giá cạnh tranh do được giảm thuế. Như vậy, người tiêu dùng trong nước có thể được hưởng lợi từ việc này. 3

16쪽

EU có thế mạnh vượt trội về dược phẩm, máy móc, thiết bị và đặc biệt là công nghệ, đều là những mặt hàng Việt Nam cần cho phát triển. Do ảnh hưởng của COVID-19 nên trong ngắn hạn chưa thể khẳng định được việc giảm thặng dư thương mại có phải là xu thế thực tế hay không, và cần phải có thêm thời gian để nhận định về hiện tượng này, cùng những tác động gián tiếp của nó. Một điểm cần lưu tiếp theo, là không như nhiều người thường nghĩ, Đức hoặc Pháp sẽ là những bạn hàng xuất khẩu sang Việt Nam nhiều nhất, mà Ai-len mới thực sự là nước mà Việt Nam nhập khẩu hàng hóa nhiều nhất từ EU (Hình T3). Điều này diễn ra cả trước và sau khi EVFTA có hiệu lực. Trong số 4,46 tỷ USD hàng hóa Việt Nam nhập từ Ai-len sau một năm ký EVFTA (từ ngày 01/8/2020 đến ngày 01/8/2021) thì 95,7% là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (tương đương với 4,27 tỷ USD). Vì sao lại như vậy? Câu trả lời của chúng tôi là Ai-len đóng vai trò như một “đặc khu kinh tế” của EU, một “thiên đường kinh doanh” với thuế suất thuế TNDN bình quân chỉ có 12,5%. Kết quả là, Ai-len là nơi đặt trụ sở của hơn 1000 tập đoàn đa quốc gia hoạt động trong các lĩnh vực như dược phẩm, hóa chất, phần cứng và phần mềm máy tính. Một số các tập đoàn này có chi nhánh cũng như nhà máy tại Việt Nam. Các nước còn lại, 1487 Ba Lan, 341 Thụy Điển, 352 10% Ai-len, 4061 Hungari, 372 3% 28% Bỉ, 474 3% Tây Ban Nha, 526 4% Hà Lan, 657 5% 10% 23% Italia, 1511 10% Đức, 3347 Pháp, 1520 Hình T3. Tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam từ các nước EU trong năm 2020 (ĐVT: triệu USD, %) Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan 4

17쪽

Điều này hàm ý rằng thương mại nội ngành theo chuỗi giá trị trong nội bộ các tập đoàn xuyên quốc gia đóng vai trò chính yếu. Đây cũng là một trong ba định hướng chiến lược về chính sách thương mại của EU trong giai đoạn 2021-2030 nhằm hướng tới quyền tự chủ và chiến lược mở. Với việc EVFTA được ký kết, hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với EU nói chung và Ai-len nói riêng được kỳ vọng sẽ trở nên đa dạng và thuận tiện hơn so với trước đây, nhưng cũng cần hiểu rằng mô thức thương mại bị định hình bởi các chuỗi giá trị toàn cầu do các tập đoàn xuyên quốc gia kiểm soát. Điều này có ý nghĩa quan trọng để hiểu được thuận lợi cũng như rủi ro của mối quan hệ thương mại trong EVFTA (cũng như thương mại toàn cầu nói chung). Xét trên khía cạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tính lũy kế đến hết tháng 9/2021, các nước EU đầu tư vào Việt Nam tổng cộng 2.249 dự án (chiếm 6,59% tổng số dự án FDI) với tổng số vốn đăng ký đạt 22,27 tỷ USD (chiếm 5,52%). Trong một năm sau khi ký EVFTA, dưới tác động của dịch Covid-19, việc di chuyển qua lại giữa hai bên bị gián đoạn đã khiến cho việc đầu tư bị tổn thất nặng. Trong đó, tổng số dự án cấp mới của các quốc gia thuộc EU chỉ đạt 151 dự án kể từ khi EVFTA có hiệu lực, giảm 21,35% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký mới đạt 423 triệu USD, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Với dòng vốn góp mua cổ phần, số lượt góp vốn đạt 316 lượt với tổng giá trị góp vốn là 428 triệu USD, giảm đến 45,8% đối với số lượt góp vốn và giảm 31,5% đối với giá trị góp vốn. Tổng vốn đăng ký FDI từ các nước EU đạt hơn 1 tỷ USD trong giai đoạn tháng 08/2020 – 08/2021, giảm hơn 38,2% so với cùng kỳ năm trước. COVID-19 có tác động tiêu cực rất lớn, nhưng không vì thế bỏ qua các vấn đề nội tại của nền kinh tế Năm đầu tiên thực hiện EVFTA lại là năm Việt Nam, EU và cả thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của COVID-19, do đó, kết quả thương mại tổng thể do EVFTA mang lại có thể bị che khuất bởi hậu quả bởi đại dịch. Để bóc tách hai loại ảnh hưởng này, chúng tôi đã xây dựng một mô hình toán mô phỏng để thử ước lượng tác động riêng phần của EVFTA trong năm đầu tiên. Kết quả cho thấy, với giả định không tồn tại dịch COVID-19, và các điều kiện khác không thay đổi, kể cả việc chưa tồn tại EVFTA, thì kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam trong một năm qua đã có thể đạt 45,46 tỷ USD (so với con số 39,7 tỷ USD trên thực tế). Khi có thêm các chính sách miễn giảm thuế quan theo EVFTA, thì trị giá xuất khẩu hàng hóa có thể lên tới 51,04 tỷ USD, tăng 12,27% so với trường hợp chưa ký EVFTA và không có COVID-19. Trong khi đó, con số thực tế sau năm đầu tiên thực hiện EVFTA, kim ngạch xuất khẩu chỉ là 39,7 tỷ USD, cho thấy hậu quả to lớn của đại dịch COVID- 19. Nói cách khác, nếu không có COVID-19, có thể chúng ta đã chứng kiện sự bùng nổ xuất khẩu 5

18쪽

của Việt Nam sang thị trường EU trong năm đầu tiên thực hiện Hiệp định. Hy vọng rằng tiềm năng to lớn này sẽ được thực hiện sau khi dịch COVID-19 đã được đẩy lui. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận một thực tế là, bên cạnh những thuận lợi to lớn do EVFTA hứa hẹn mang lại, Việt Nam đồng thời đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức đến từ bên trong cũng như bên ngoài. Điều đáng lo ngại đầu tiên là chi phí thương mại của Việt Nam cao hơn so với các nước trong khu vực ASEAN. Các biện pháp phi thuế quan và thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp và gây cản trở cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như thương mại quốc tế. Tiếp đó, nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU là nông sản và thủy-hải sản đang gặp nhiều rủi ro do thường vi phạm các quy định SPS (Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch động-thực vật) từ đối tác. 46% 45% 50% 53% 48% 62% 14% 22% 17% 22% 35% 9% 40% 29% 31% 29% 34% 15% May mặc & Giày Đồ gỗ Hàng điện tử Ô tô Hàng sản xuất Tổng dép GTGT được tạo ra trực tiếp trong nước GTGT được tạo ra gián tiếp trong nước GTGT từ nước ngoài Hình T4. Giá trị gia tăng nước ngoài so với giá trị gia tăng trong nước, 2019 (ĐVT: %) Nguồn: World Bank, 2019 Ngoài ra, lợi thế về cắt giảm thuế quan chỉ có ý nghĩa khi hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam có giá trị gia tăng cao (quy định về nguồn gốc xuất xứ). Thực tế hiện nay cho thấy Việt Nam vẫn đang phụ thuộc chủ yếu vào nguyên phụ liệu cho sản xuất từ các nước ngoài EU. Hình T4 thể hiện các ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam sử dụng giá trị gia tăng từ nước ngoài cao hơn giá trị gia tăng được tạo ra trực tiếp trong nước, đặc biệt khoảng chênh lệch này càng lớn đối với những ngành sản xuất yêu cầu các yếu tố về công nghệ - kỹ thuật như hàng điện tử (62% giá trị gia tăng được tạo ra từ nước ngoài so với 29% giá trị gia tăng được tạo ra trực tiếp trong nước) và ngành sản xuất ô 6

19쪽

tô (53% giá trị gia tăng từ nước ngoài so với 31% giá trị gia tăng được tạo ra trong nước). Với các quy định nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ trong Hiệp định EVFTA, các doanh nghiệp đang hoạt động và sản xuất tại Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tận dụng tối đa các lợi ích miễn trừ thuế quan từ EVFTA. Chưa kể tới những vấn đề còn tồn tại hiện nay, trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, liên kết lao động và thương lượng tập thể, v.v… đều là những vấn đề cấu trúc liên quan đến mô hình kinh tế và thể chế của Việt Nam. Nếu không giải quyết thỏa đáng những vấn đề này, tiềm năng thương mại từ EVFTA có thể bị hạn chế đáng kể. Bối cảnh thế giới và khu vực đang thay đổi, Việt Nam cần tiếp tục cải cách và thay đổi nhằm tận dụng lợi thế Như phần trên đã chỉ ra, một đặc điểm quan trọng trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU là dòng giao dịch diễn ra trong chuỗi giá trị toàn cầu do các tập đoàn đa quốc gia kiểm soát. Tuy nhiên, không dễ để các doanh nghiệp Việt có thể tham gia được vào chuỗi giá trị này. EVFTA mở ra cho doanh nghiệp trong nước cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại và tiên tiến đến từ các nước thuộc Liên minh Châu Âu. Trong bối cảnh mô thức thương mại có thể thay đổi theo chiều hướng giảm thặng dư thương mại với EU, việc tăng cường nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại sẽ không chỉ giúp cho hàng hóa sản xuất trong nước đạt chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn mà còn tăng khả năng cũng như cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp trong nước vì thế cần phải tự làm mới mình, nâng cao kỹ năng và khả năng tiếp nhận công nghệ mới, cải thiện sản phẩm cả về mẫu mã lẫn chất lượng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, để tránh mất lợi thế ngay trên sân nhà. Trong một tương lai dài hơn, tác động kết hợp của COVID-19 và căng thẳng thương mại giữa phương Tây và Trung Quốc có thể thúc đẩy quá trình tái cấu trúc các chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra nhanh và mạnh hơn dự kiến. Nếu các chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng ít phụ thuộc hơn vào một số trung tâm sản xuất toàn cầu, như Trung Quốc, về lý thuyết thì Việt Nam được hưởng lợi nếu tham gia một phần vào quá trình lấp đầy chỗ trống trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng toàn cầu cũng có thể được tinh gọn lại với ít quốc gia tham gia hơn. Trong bối cảnh chủ nghĩa đơn phương và chủ nghĩa song phương có khuynh hướng gia tăng, các tập đoàn hàng đầu có thể tìm cách đưa toàn bộ hoặc một phần nguồn cung của mình về nước hoặc đến các nước đồng minh hoặc trong khối hợp tác chung. Hiện tượng này có thể tái định hình bức tranh cạnh tranh kinh tế ở cấp độ toàn cầu. Cấu trúc của chuỗi giá trị toàn cầu có thể thay đổi theo hướng tích hợp xuôi 7

20쪽

nhiều hơn và tích hợp ngược ít hơn trước đây. Việt Nam chỉ có thể tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro từ quá trình này nếu tái định vị thành công vị thế của mình trong giai đoạn hậu COVID-19. Nhưng điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những giải pháp chính sách mạnh mẽ và chủ động hơn, để có thể xây dựng năng lực sản xuất và xuất khẩu ở cấp cao hơn theo hướng ưu tiên giá trị gia tăng và công nghệ cao. Việt Nam đang là nước dẫn đầu trong thương mại hai chiều với EU, có thể coi như một cửa ngõ (gateway) của EU vào Đông Nam Á và có thể là cả Trung Quốc. Nhưng lợi thế này không phải là mãi mãi. Hiện EU cũng đang đàm phán FTA với các quốc gia khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippine và Indonesia (sau thương vụ đàm phán FTA với khu vực ASEAN sụp đổ). Đây đều là các quốc gia cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam trong việc xuất khẩu hàng hóa sang khu vực EU. Do đó, Việt Nam cần tận dụng tối đa lợi thế và cơ hội của người đi trước để duy trì và phát huy lợi thế sẵn có trong quan hệ thương mại với EU. Để có thể đạt được những lợi ích lâu dài và bền vững từ EVFTA, thay vì những lợi ích trước mắt từ tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu hay dịch vụ, Việt nam cần hiểu rõ sự hạn chế của chiến lược “hái quả dưới thấp” như được đề cập trong đoạn đầu. Nói cách khác, nếu chỉ dừng lại ở những cải cách đơn giản, mà né tránh hoặc trì hoãn những cải cách mạnh mẽ - và khó khăn hơn – thì những lợi thế hiện có của Việt Nam như một trong những thành viên đầu tiên của ASEAN (chỉ sau Singapore) ký FTA với EU, sẽ phai nhạt nhanh chóng. Đây là điều mà bộ máy lập pháp và người làm chính sách cần lưu ý để phát huy tốt nhất những gì đã đạt được từ EVFTA. 8

앞 20페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!