80 tình huống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hình sự, dân sự, đất đai, môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội

THThiNganHang
다운로드 0회
70
0

자료 내용

1쪽

I. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ HÌNH SỰ, TỆ NẠN XÃ HỘI (35 tình huống) Tình huống 1 Do cần tiền để trả nợ, sáng 15/12/2014, Nguyễn Văn C (sinh năm 1990, sinh sống tại thành phố X) chạy xe máy đến nhà bác của mình là ông Nguyễn Văn N để mượn tiền. Trên đường đi, C nghĩ nếu nhà bác không ai ở nhà thì sẽ ra tay lấy trộm tài sản. C đến nhà ông N. Thấy cổng nhà khóa trái, C tìm cách đột nhập không thành nên lên tiếng gọi người nhà. Lúc này, con gái ông N là chị Nguyễn Thị M ra mở cổng. Vào nhà một lúc, C viện lý do bị đau bụng, sau đó nhờ chị M pha một ly nước chanh để uống. Khi chị M đi vào phòng bếp, C lặng lẽ bám theo rồi bất ngờ lao đến dùng tay kẹp cổ khống chế rồi yêu cầu chị M chỉ chỗ cất tiền. Chị M cố vùng vẫy để tháo chạy nhưng bị mất thăng bằng, ngã vào cạnh khung cửa bếp bất tỉnh. C đi vào phòng ngủ con gái ông N lục lấy được 9 nhẫn vàng (trọng lượng từ 0,5 - 1 chỉ/chiếc), sau đó sang phòng ngủ của ông N lục lấy 6 nhẫn vàng (trọng lượng 2 chỉ/chiếc) và 3 triệu đồng. Lúc này, phát hiện chị M tỉnh dậy chạy ra ngoài đường kêu cứu nên C lên xe tẩu thoát. C bán 5 chiếc nhẫn vàng cho một người đàn ông được 7,5 triệu đồng. Được người thân vận động, sáng ngày hôm sau, Nguyễn Văn C đã đến công an thành phố X đầu thú. Hội đồng định giá tài sản Thành phố X xác định, số nhẫn vàng mà C cướp được có tổng trị giá gần 58,2 triệu đồng. Bình luận: Nguyễn Văn C phạm tội “cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 133 BLHS vì các lý do sau đây: - C đã dùng vũ lực khống chế chị M nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản - C thực hiện hành vi với lỗi cố ý - Hành vi của C đã xâm phạm đến quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được pháp luật bảo vệ - C là người đã thành niên, không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm - Tài sản mà C chiếm đoạt được có giá trị 58,2 triệu đồng, thỏa mãn điểm e khoản 2 điều 133 BLHS. Tình huống 2 Hà Văn A (sinh năm 1993, sinh sống tại thành phố H) là đối tượng không công ăn việc làm, chơi bời lêu lổng. Khoảng 7h15 ngày 20/1/2014, A điều khiển 1

2쪽

xe máy hướng thành phố H đi Cửa khẩu quốc tế Z (thuộc huyện VX, tỉnh H) để đi chơi. Đến km 5 + 500, A dừng lại bên lề đường hút thuốc, thấy chị Vũ Thị T điều khiển xe máy chở mẹ là bà Vũ Thị N (70 tuổi, thường trú tại tổ 6, phường N, thành phố H) đi vượt qua, A đã nảy sinh ý định cướp giật túi xách của bà N. Khi đuổi theo đến km 17 + 500 thuộc thôn GN xã T, huyện VX gần Cửa khẩu quốc tế Z, A ép sát để xe máy do chị T điều khiển chở phía sau là bà N dừng lại, sau đó A tiến đến giật túi xách của bà N rồi nhanh chóng lên xe máy tẩu thoát đến khu vực núi đá thuộc thôn TX, xã T. Tại đây, A đã vứt lại chiếc xe máy biển kiểm soát 19K-8421 rồi ôm toàn bộ số tiền 50 triệu đồng trong túi xách chạy trốn lên núi. Chị Vũ Thị T và bà Vũ Thị N đã đến công an huyện VX trình báo. Ngày 21/1/2014, A đã bị công an bắt khi đang lẩn trốn trên núi. Bình luận: Hà Văn A phạm tội cướp giật tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 136 BLHS vì các lý do sau đây: - A đã có hành vi giật tài sản từ bà N về mình một cách nhanh chóng làm cho bà N bị bất ngờ, không có khả năng giữ được tài sản mình đang quản lý…, A cũng không giấu giếm hành vi của mình. - A thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản - Hành vi của A đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ. - A là người đã thành niên, không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm - A đã chiếm đoạt chiếc túi xách trong đó có 50 triệu đồng, thỏa mãn điểm g khoản 2 Điều 136 BLHS. Tình huống 3 Ngô Bá H (sinh năm 1989, sinh sống tại huyện NH, tỉnh N) là bạn học của Nguyễn Đại N (sinh năm 1989, sinh sống tại huyện NH, tỉnh N). Khoảng 12 giờ ngày 18/8/2013, Ngô Bá H và Nguyễn Đại N chở nhau bằng xe máy của H đi chơi ở xã T, huyện TN, tỉnh N. Khi đi qua đoạn đường gần cầu Đen, H phát hiện thấy cửa hàng bán tạp hóa của gia đình anh Nguyễn Đức P mở cửa nhưng không có người trông coi, phía ngoài cửa hàng có để một số cuộn dây điện. H nảy sinh ý định trộm cắp số dây điện trên nên bảo N dừng xe lại để H vào lấy trôm dây điện. H vào cửa hàng của anh P lấy 03 cuộn dây điện màu vàng (02 cuộn còn nguyên và 01 cuộn đang bán dở) rồi ra chỗ xe N đang đứng đợi cùng nhau đem số dây điện 2

3쪽

trộm cắp được đến nhà anh Trần Quốc T ở số nhà 40 đường Hữu Nghị, thị trấn C, bán số dây điện đó cho anh T với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bản được dây điện H đưa cho N 800.000 đồng rồi rủ N đi xuống bãi tắm QL chơi. Anh Nguyễn Đức P đã trình báo sự việc mình bị mất trộm đến cơ quan công an huyện TN. Về tiền án: Ngày 21/3/2006 bị TAND huyện TN xử phạt 12 tháng tù, về tội: “ Trộm cắp tài sản”(tài sản trị giá dưới 02 triệu đồng); Ngày 13/5/2008 bị TAND huyện NH xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” (tài sản trị giá dưới 02 triệu đồng); Ngày 18/5/2010 bị TAND huyện XT xử phạt 30 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về tiền sự: Ngày 25/5/2005 H đã bị UBND xã T, huyện TN xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 14/01/2013 H bị UBND xã NS, huyện NH xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản. Bình luận: Ngô Bá H phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS (với tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm) vì các lý do sau đây: - H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Đó là hành vi cố ý giấu diếm để dịch chuyển trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. - H thực hiện hành vi với lỗi cố ý - Hành vi của H đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ - H là người đã thành niên, không bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm về mọi loại tội phạm. - Trong ba tiền án của H có hai tiền án năm 2006 và năm 2008 trộm cắp tài sản có giá trị dưới 02 triệu đồng nhưng do trước đó ngày 25/5/2005 H đã bị UBND xã T xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó hai tiền án này của H chưa được xoá. Năm 2010 H lại bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, lần phạm tội này của H là tái phạm. Ngày 14/01/2013 H bị UBND xã NS, huyện NH xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy lần phạm tội ngày 18/8/2003 này của H sẽ bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” (Tài sản chiếm đoạt trị giá trên 02 triệu đồng) thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm (quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 49 BLHS). Tình huống 4 Chiều ngày 13/6/2012, Trần Tuấn N (sinh năm 1985, sinh sống tại thành phố ND) gọi điện cho bạn là Đỗ Văn C (sinh năm 1986, sinh sống tại thành phố 3

4쪽

ND) nhờ C thuê hộ xe ô tô tự lái vì N không có bằng lái xe ô tô, nên không tự thuê xe được. C nhất trí và hỏi một số điểm cho thuê xe ô tô nhưng không được nên gọi điện thoại cho bạn là Trần Xuân T nhờ thuê xe. N trực tiếp nhờ T thuê xe ô tô tự lái để N cầm cố lấy tiền trả nợ, và nói dối là sẽ báo cho gia đình để chuộc xe trả đúng hạn. T tưởng thật và đồng ý. N đưa cho T chiếc xe máy BKS: 35N5 – 5357 của N kèm theo đăng ký xe, ngay sau đó T đến công ty TNHH Ngọc Tuyết ở 79 đường Đ, phường C, thành phố ND để thuê xe. T trực tiếp ký hợp đồng thuê xe với anh Tống Đức H. Anh H cho T thuê xe ô tô Matiz – BKS: 18N – 2250 với giá 500.000đ/ngày, thời hạn cho thuê xe là 02 ngày, T đặt lại bản phô tô CMND, 01 xe máy BKS: 35N5 – 5357 và 300.000đ. Sau khi thuê được xe, T giao ô tô cho N, N mang đi cầm cố tại một điểm trên đường X, thành phố ND được 80 triệu đồng. N về đưa cho T 4.000.000đ để đặt cọc tiền thuê xe và 500.000đ để T đi xe taxi về nhà. Ngày 15/6/2013 T yêu cầu N chuộc xe, N tiếp tục nói dối T đã báo gia đình để chuộc xe và đưa thêm cho T 1.000.000đ để xin gia hạn hợp đồng thuê xe. Sau đó T đã đến công ty Ngọc Tuyết gặp chị Cao Thị Thu H đưa 5.000.000đ và xin gia hạn thời hạn thuê xe đến ngày 23/6/2013. Số tiền có được do cầm cố chiếc xe ô tô BKS: 18N5 – 2250, N đã mang trả nợ và ăn tiêu hết. Ngày 24/6/2013, đến thời hạn trả xe nhưng không thấy N mang xe đến trả, T tiếp tục gọi điện cho N nhưng N đã bỏ trốn. Bình luận: Trần Tuấn N phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 BLHS vì các lý do sau đây: - Hành vi của N thõa mãn dấu hiệu của tội lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó” . Trần Tuấn N đã tạo niềm tin đối với anh Trần Xuân T là bố mẹ N sẽ bỏ tiền chuộc xe khi N mang xe đi cầm cố, để anh T đi thuê xe ô tô tự lái cho Nhật. Tuy nhiên, N mang xe đi cầm cố và lấy tiền trả nợ, chi tiêu cá nhân hết. Khi đến thời hạn trả xe N không có tiền trả và N cũng không nói với gia đình cho tiền chuộc xe để anh T trả xe cho các chủ sở hữu đó là anh S và chị H. Khi bị anh T liên tục đòi N đã bỏ trốn. - N thực hiện hành vi với lối cố ý, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản - Căn cứ vào số tiền N chiếm đoạt khi cầm cố chiếc xe và trị giá của chiếc xe, N phải chịu trách nhiệm theo điểm d khoản 2 Điều 140 bộ luật hình sự. Tình huống 5 4

5쪽

Trần Văn H (sinh năm 1990, sinh sống tại quận TX, thành phố HN) và Nguyễn Văn B (sinh năm 1988, sinh sống tại quận BĐ, thành phố HN) là hai đối tượng không có công việc ổn định, thường xuyên gây rối tại địa phương nơi cư trú. Ngày 10/6/2013, vì không có tiền nên H và B nảy sinh ý định trộm cắp tiền để thỏa mãn nhu cầu ăn chơi. Trưa ngày 10/6/2013, H rủ B đi đến khu vực ngõ 26 phố X và nhìn thấy nhà chị Y (số nhà 15, ngõ 26 phố X) không khóa cửa. Lợi dụng sơ hở, Trần Văn H và Nguyễn Văn B đã trèo vào nhà chị Y và lấy trộm 2 điện thoại di động, 2 máy tính xách tay. B cầm ba lô và bỏ những vật vừa lấy trộm được vào trong ba lô. Khi vừa ra khỏi nhà chị Y, H và B đã bị anh Trần P (chồng chị Y, đang đi từ ngoài đường về) phát hiện, hô hoán. H sợ quá bỏ chạy trước, anh Trần P đuổi theo B và giằng lại ba lô trên tay B. B giật lại cho bằng được và đẩy anh P ngã. Khi chạy được một đoạn nữa, H và B bị dân phố vây bắt được và đưa đến công an. Qua giám định, trị giá 2 chiếc Điện thoại di động và máy tính xách tay được xác định là 50 triệu. Bình luận: - Hành vi của B là hành vi chuyển hóa từ tội “trộm cắp tài sản” (điều 138 BLHS) sang tội cướp tài sản (điều 133 BLHS) vì mặc dù ý định ban đầu của B là thực hiện hành vi trộm cắp nhưng khi bị phát hiện, B đã bỏ chạy và khi bị anh P giằng lại ba lô, B vẫn giữ bằng được tài sản và đẩy anh P ngã. Mục đích của B khi tẩu thoát là giữ bằng được tài sản. Hành vi này đã đủ cấu thành tội cướp tài sản và lúc này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hóa thành tội cướp tài sản, đây chính là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản. - B thực hiện hành vi với lỗi cố ý - Hành vi của B đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ - B là người đã thành niên, không bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm về tội phạm này. Tình huống 6 Nguyễn Minh Q và Nguyễn Minh H (cùng sinh sống tại xã Vĩnh An, huyện VT, tỉnh Z) là hai anh em cùng cha khác mẹ nhưng không chịu tu chí làm ăn mà suốt ngày nhậu nhẹt, chơi bời. Tối 22/9/2014, Q rủ Nguyễn Văn D (hàng xóm nhà Q, H) lên khu vực dốc Quýt, thuộc huyện miền núi Sơn Hòa ngồi nhậu để chờ xe tải đi qua chặn lại xin tiền, tất cả đồng ý. Sau đó, H điều khiển mô tô chở Q và D đến dốc Quýt. Tại đây H, D dắt hai mô tô ra chắn ngang đường để chặn xe tải đi qua. 5

6쪽

Đến khoảng 2 giờ ngày 23/9, ôtô tải biển kiểm soát 47C - 041.84, do anh Nguyễn Văn X điều khiển đi qua dốc Quýt, trên xe còn có hai phụ xe. Do bị 2 mô tô chắn giữa đường, anh X điều khiển xe đi qua đã va chạm làm đổ xe của H, nhưng chưa gây hư hỏng gì. H vẫn tiếp tục điều khiển xe đi tiếp, thì nhóm của H điều khiển mô tô đuổi theo chặn ô tô của anh X dừng lại. Tiếp đó H đu lên cánh cửa ô tô, yêu cầu những người ngồi trong xe đưa tiền bồi thường do làm đổ xe, trong khi Q và D nhặt đá bên đường ném làm vỡ kính chắn gió và làm móp cánh cửa ô tô. Thấy vậy, những người ngồi trên ô tô nói có gì thì thương lượng, H yêu cầu phải đưa 2.000.000 đồng, anh X liền lấy tiền đưa cho H. Nhận được tiền, cả nhóm mới đưa mô tô tránh vào lề đường để cho ô tô của anh X đi, rồi quay lại dốc Quýt tiếp tục ngồi nhậu. Bình luận: Nguyễn Minh Q, Nguyễn Minh H, Nguyễn Văn D phạm tội “cưỡng đoạt tàn sản” theo quy định tại Điều 135 BLHS vì những lý do sau đây: - Q, H, D đã có hành vi uy hiếp tinh thần của anh X bằng thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho anh X lo sợ mà phải giao tài sản cho nhóm người này. - Q, H, D thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác - Hành vi của Q, H, D đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ - Q, H, D là người đã thành niên, không bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm về tội phạm này. Tình huống 7 Ngô Văn N và Trương Tấn V là hai anh em họ cùng sinh sống tại quận BT, thành phố H. Cả hai người đều có tiệm sửa xe gắn máy ở đường P, phường A, quận BT. Khoảng 19h ngày 5/2/2000, anh V mất dụng cụ bơm hơi và nghi N lấy nên đến chỗ sửa xe của N cự cãi và xô xát. Sự việc sau đó được người dân xung quanh can ngăn kịp thời. Một lúc sau, khi những người can ngăn đã bỏ đi, anh V chạy về tiệm sửa xe của mình lấy một khúc cây tầm vông quay lại đánh N. N té ngã và làm rơi cây kéo dùng để cắt ruột xe đặt ở trên kệ gần đó xuống đất. Tức thì, N liền nhặt lấy cây kéo rồi đâm nhiều nhát vào cổ anh V. Anh V loạng choạng chạy ra phía ngoài cửa hàng kêu cứu thì N đuổi theo, đâm nhiều nhát nữa vào người V. Tuy được người thân đưa đi cấp cứu nhưng anh V đã tử vong do vết thương quá nặng. 6

7쪽

Bình luận: Ngô Văn N phạm tội giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS vì các lý do sau đây: - N cố ý tước đoạt sinh mạng của V, thể hiện ở chỗ N đã đâm nhiều nhát vào cổ V… Khi V chạy ra ngoài kêu cứu N vẫn đuổi theo và đâm nhiều nhát vào người V. - N đã dùng vũ lực tác động lên vị trí nguy hiểm trên cơ thể V. - Hành vi của N đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân được pháp luật hình sự bảo vệ - N là người đã thành niên nên, không bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm về tội phạm mà mình gây ra. Tình huống 8 Nguyễn Đình T là sinh viên trường trung cấp nghề VT, quận C, tỉnh HN. T không chịu học hành mà suốt ngày chơi bời, ăn nhậu và nợ một số tiền khá lớn từ việc đánh bạc, lô đề. Đến hạn phải trả số tiền nợ từ chủ đề, T không có tiền trả nên đã nảy sinh ý định đi vay người quen để trả nợ. Biết được người họ hàng của mình là ông Nguyễn Quốc P kinh tế khá giả, ngày 29/9/2014, T đã đến nhà ông P tại phố Ngọc Lan phường A quận B thành phố HN. Khi đi, T thủ sẵn trong người một con dao mũi nhọn với mục đích nếu ông P không cho vay tiền thì sẽ dùng dao đe dọa để vay bằng được. Khi thấy ông P từ chối cho vay, T rút dao nhọn ra đe dọa: "Ông có cho tôi vay tiền không thì bảo". Ông P bỏ chạy lên tầng 2, vừa chạy vừa kêu cứu: "Ối giời ơi, cứu tôi với, có cướp". Khi ông P chạy đến gần cửa ra vào ban công tầng 2 thì T đuổi kịp và vung dao đâm vào vai trái ông P. Ông P quay lại chống đỡ thì bị T đâm nhiều nhát vào vai và tay phải. Thấy ông P vẫn kêu cứu T liền đâm vào ngực ông P. Sau đó, T quay ra lục soát tủ trong phòng tầng 2 lấy được 300 ngàn đồng và tìm cách mở chiếc két sắt nhưng chìa khóa bị gãy, không mở được. Do quần áo, tóc tai, tay chân bị vấy máu nên sau khi rửa tay chân xong, T lấy một bộ quần áo của ông P mặc vào. Bộ quần áo bị dính máu cùng dao nhọn T cho vào túi mang đi vứt, sau đó bỏ trốn. Ông P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thành phố HN và đã chết vào sáng ngày 30/9/2014. Theo kết quả giám định pháp y, ông P chết do bị đa chấn thương, mất máu không hồi phục. Bình luận: Nguyễn Đình T phạm tội giết người theo quy định tại khoản 2 tại Điều 93 BLHS và tội cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS: 7

앞 7페이지만 표시됩니다. 전체를 보려면 자료를 다운로드하세요.

댓글 (0)

로그인 하여 토론에 참여하기

댓글이 없습니다. 첫 댓글을 남겨보세요!