1 ページ
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang A. Đặt vấn đề Nước ta đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến năng suất lao động chưa cao, hiệu quả kinh tế thấp. Bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Điều đó chính làm cho nguyên nhân làm cho kinh tế nước ta chậm phát triển hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đứng trước tình hình đó đòi hỏi đảng phải đề ra đường lối chính sách đường lối đổi mới nhằm đưa đất nước ta phát triển về mọi mặt mà trọng tâm là chuyển nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sẩn Việt Nam (tháng 12 năm 1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới mà một trong những định hướng quan trọng là mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Quán triệt quan điểm đó đại hội lần thứ VII (1992) và lần thứ VIII (1996) tiếp tục phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế theo tinh thần:" Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển". Sau hơn 15 năm đổi mới kết quả thực tế cho thấy đời sống nhân dân được nâng cao, kinh tế phát triển về mọi mặt. Điều này đã khẳng định con đường đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn. Trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI khi loài người đang bị cuốn hút vào một quá trình mang tính chất quốc tế thì chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của tính hiệu quả của việc hội nhập kinh tế quốc tế, đã tạo thành tựu to lớn về văn hoá, xã hội, kinh tế chính trị để đất nước từ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một xu hướng khách quan tác động một cách toàn diện đến mọi dân tộc không có ngoại lệ , nó đặt mỗi quốc gia trước những thời cơ và cả những thách thức to lớn. Do đó việc nghiên cứu tìm hiểu toàn cầu hoá một cách sâu sắc, toàn diện. Đặc biệt là những tác động của nó đến đời sống kinh tế - chính trị để có đối sách thích hợp là nhiệm vụ trọng đại của mọi quốc gia trong những thập kỷ đâù của thế kỷ XXI. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1
2 ページ
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang B. Giải quyết vấn đề I. Một số vấn đề lý luận về toàn cầu hoá và hội nhâp kinh tế quốc tế 1. Khái niệm về toàn cầu hóa, khu vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hoá là một danh từ đầu tiên được Webster đưa vào từ điển năm 1961 và nó được sử dụng khá phổ biến trong hai thập kỷ gần đây. Nhưng ngược dòng lịch sử thì vào năm 1870 nhà triết học Jenemy- Bentham đã sử dụng tính từ "quốc tế" và khái niệm quan hệ quốc tế đã được sử dụng rộng rãi từ thời đó. Toàn cầu hoá hay quốc tế hoá đêu là những khái niệm diễn tả mối quan hệ vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Tuy nhiên cấp độ giữa chúng là khác nhau. Toàn cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế là bước phát triển và cao của quốc tế hoá kinh tế. Quá trình toàn cầu hoá đang phát triển còn tồn tại trên thế giới hiện nay về thực chất là quá trình quốc tế hoá đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, nó phản ánh một quá trình phát triển với đặc trưng bản chất là không có ranh giới quốc gia và khu vực trong mối quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng phát triển. Xét một cách cụ thể thì toàn cầu hoá kinh tế chính trị là sự gia tăng nhanh tróng của các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuôc lẫn nhau giữa các nền kinh tế thế giới thống nhất. Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên chúng ta cần chú ý quốc tế hoá toàn cầu hoá không chỉ là quá trình phản ánh sự gia tăng của các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau mà nét quan trọng nữa là phản ánh quy mô của các hoạt động liên quan quốc gia. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, xu thế toàn cầu hoá kinh tế đã hình thành và phát triển qua một chặng đường khá dài. Tính đến nay thế giới đã ba lần "toàn cầu hoá" và lần này là lần thứ 4. Lần thứ nhất, diễn ra vào cuối thế kỷ XV sau khi Colombo phát hiện ra Châu Mỹ. Từ đó làm cho người ChâuÂu đổ đi các nơi khai hoá văn minh theo lối chủ nghĩa thực dân. Còn chinh phục thế giới lần này làm cho giá trị Châu Âu thay đổi và được truyền bá khắp nơi. Kết quả toàn cầu hoá lần thứ nhất tạo ra cơ hội tích luỹ tư bản lớn và làm cho nước Anh trở thành bá chủ thế giới. www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 2
3 ページ
Facebook: @Dethivaonganhang www.facebook.com/dethivaonganhang Lần thứ hai, vào giữa thế kỷ XIX và được đánh dấu bằng thời kỳ người Châu Âu chinh phục Châu á và làm cho Nhật Bản tiến hành cuộc "Duy Tân" hưng thịnh đất nước. Lần thứ ba: Diễn ra vào thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai với trật tự thế giới mới của các nước thắng trận làm cho nhiều nước Châu á, Châu mỹ, Châu phi La tinh giành được độc lập và hoà nhập với cộng đồng thế giới. Lần thứ 4:Là thời kỳ hiện nay với đặc trưng là xu thế toàn cầu hoá được thúc đảy bởi những nhân tố như cuộc bùng nổ thông tin thế giới , làn sóng dân chủ thứ ba của Bồ Đầu Nha vào năm 1974, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu vào đầu thập kỷ 90. Toàn cầu hoá lần này nặng về phương diện kinh tế và chính trị vì kinh tế toàn cầu hoá lấy toàn cầu hoá thị trường làm mục tiêu , lấy toàn cầu hoá thông tin làm động lực , bởi vậy nó mang ý nghĩa sâu rộng hơn nhiều so với những lần trước . Cũng vì vậy nội dung động chạm đến nhiều nước, lôi cuấn đông đảo dân số các nước nhập cuộc. Theo quan niệm của Cácmác và Ănghen thì xu hướng toàn cầu hoá kinh tế có từ khi đại công nghiệp tuư bản chủ nghĩa hình thành và tuy không dùng khái niệm toàn cầu hoá nhưng những nhận định của các ông thực chất là bàn về các vấn đề toàn cầu hoá.Trong tác phẩm " Tuyên ngôn của Đảng cộng sản "các Ông viết "…Vì luôn bị thúc đẩy bởi những nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư bản xâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập khắp nơi , trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi . Do bóp nặn ở thị trường thế giới, giai cấp tư bản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới " Như vậy, quốc tế hoá là cơ sở, tiền đề của toàn cầu hoá kinh tế và toàn cầu hóa là cấp độ của quốc tế hoá. 2. Các nhân tố thúc đẩy toàn cầu hoá kinh tế 2.1. Sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất do phân công lao động ngày càng diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới. Toàn cầu hoá lao động thúc đẩy rất nhanh, mạnh sự phát triển và xã hội hoá lực lượng sản xuất, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới lên mức cao ( vào nửa đầu thế kỷ XX GDP của thế giới tăng 2,7 lần, đến nửa cuối tăng 5,2 lần ). Toàn cầu hoá kinh www.ThiNganHang.com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 3
コメント (0)
まだコメントはありません。最初のコメントを書きましょう!